TINH THẦN KHÓ NGHÈO
Hồi c̣n nhỏ tôi thích xem các phim bi hài của Pháp do các tài tử lớn hồi đó như Fernandel, Bourvil, Maurice Chevalier, Raimu... trong các phim như César, Le Rosier de Madame Hudson, Le Prisonnier Et La Vache, Le Petit Monde de Don Camillo, Topaze v.v... Tuy đă lâu lắm rồi nhưng tôi c̣n nhớ nhiều màn vui rất tế nhị nên thỉnh thoảng không khỏi cười thầm một ḿnh...
Trong thập niên 1950, có một phim xă hội Pháp mà tôi rất thích nhan đề là “Ma Pomme”, (Trái Táo của tôi) vừa khôi hài vừa cảm động! Tài tử chính là Maurice Chevalier, nổi tiếng cũng ngang như Charlton Heston của Mỹ thời đó, đóng vai “Ma Pomme”. Ma Pomme là tên mà giới giang hồ hảo hán tự đặt cho nhau cũng như “Năm Hột Vịt, Tám Dưa Leo, Anh Ba Búa” trong đám anh chị bự cầu Muối của Việt nam vậy.
Bản nhạc đầu phim là:
Ma Pomme, c'est moi Ah! Ah!
J'suis plus heureux qu'un roi,”
Je n'me fais jamais d'mousse…
Táo (Tàu)! là mỗ đây Á! A!
Tớ sướng bằng vạn vua chúa.. ớ ơ…
Tớ không hề khoe khoang ư a...v.v...
Bài hát có cái giọng ngang bướng như một ca khúc khác trong một phim khác mà tôi quên tên nhưng c̣n nhớ rơ mấy câu như sau: (nhớ rơ có thể v́ nó cũng gàn gàn ngang bướng như đám môn đệ đầu tiên của thánh Phanxicô chăng?)
Je suis bâtelier... Je suis parisien!
Je suis sans ami... Je suis sans soutien!...
Mais je ris de tout... Je ris pour un rien,
Je ris d’un képi... Je ris d’un sans sou!...
Diễn nôm: Chèo đ̣ là nghề của mỗ, tớ gốc gác là dân Paris. Tớ cóc có bạn, không nơi tựa nương... Nhưng tớ bất chấp tất cả, cái ǵ tớ cũng cười. Tớ cười thằng cha cảnh sát (cảnh sát Pháp đội nón képi) tớ cười thằng khố rách áo ôm...)
Trở lại phim Ma Pomme!... Tiếng hát khàn khàn của Maurice Chevalier gần như giọng khàn khàn nổi tiếng của Louis Armstrong nghe vừa buồn cười vừa năo nuột! Ma Pomme là một anh chàng “màn trời chiếu đất” có hạng trong đám giang hồ. Anh “cóc” cần đời, mà đời lại ưu đăi anh quá mức tưởng tượng. Nhà anh là cái gầm cầu bên ḍng sông Seine (xen), giường ngủ của anh là một đám cỏ khô, mền đắp là cái áo choàng rách nát, cái nón của anh bẹp nát thủng vài ba lỗ, đôi giày há mơm để ḷi đôi vớ ṃn hết một nửa, lộ cả nửa bàn chân... Tuy vậy, tánh t́nh anh phóng khoáng, phong lưu mă thượng khác thường. Khi gặp bạn bè, theo thói xưa, anh mời họ hút thuốc. Anh bốc một nắm tàn thuốc lá trong túi áo lủng, rồi x̣e cả bàn tay như một cái đĩa lớn, cho bạn lựa chọn cái tàn nào tương đối chấp nhận được! Nhưng anh không coi đó là thiệt tḥi kém cỏi, trái lại anh rất ngang tàng và hănh diện v́ nếp sống tự do không bị ràng buộc bởi bất cứ lễ nghi khuôn phép nào cả.
Một hôm đám thợ nề trong thành phố Paris đào móng làm nhà t́m được một gia tài chôn sâu trong ḷng đất trị giá hàng tỉ bạc! Chủ nhân kho tàng đă chết không con cái nối dơi tông đường, nên để gia tài lại cho một đứa cháu tên là XX V́ cái tên viết tắt bí hiểm nên nhà chức trách phải lục lọi gia phả của người nằm trong mộ đến ba đời... Ngặt một nỗi là XX không có địa chỉ. Mà đám anh hùng sông Seine th́ chỉ rặt những tên như Pirate (kẻ cướp), Curé (Cha xứ), Scieur (cưa gỗ) th́ làm sao mà biết ai là ai ... vậy mà cuối cùng nhà chức trách cùng nhận diện được Ma Pomme chính là XX Bèn đưa “cha nội” này về, bắt anh hớt tóc, tắm rửa, cho thợ đến may quần áo đúng thời trang, cho người đến hầu hạ nâng khăn sửa túi, bắt anh học nghệ thuật xă giao, ăn uống đứng lễ nghi khuôn phép, ngồi ghế đệm, nhắp rượu cocktail, tiếp đăi khách thập phương sang trọng chưa hề một lần gặp mặt.
Cái lối sống trưởng giả hoàn toàn vị h́nh thức và giả tạo không thích hợp với anh, nên sau nhiều đêm mất ngủ v́ “bị” buộc phải chủ tọa bao nhiêu tiệc tùng, đi nghe bao nhiêu buổi ḥa nhạc, xem vũ ballet và tham dự nhiều thứ tiêu khiển thượng lưu khác, và nhất là nghe những lời nịnh hót của những người không quen vô liêm sỉ đến tán tỉnh để kiếm chác, Ma Pomme trở lại gầm cầu vui vẻ với các bạn rách mướp thuở trước nhưng họ không hề thèm muốn tài sản của anh, chuyện tṛ thân mật, ca hát đón chào anh, rồi mỗi người kiếm một góc quay ra ngủ thoải mái dưới trăng sao!
Thiên hạ đi t́m bắt anh trở về nếp sống giàu sang. Anh không quen ngủ giường đệm nên anh ôm gối nằm ngủ trên sàn gỗ, rồi cũng như lần trước anh bỏ trốn, lần này thật xa để thoát thân! Nhưng nhà chức trách đâu có buông tha cho anh! Họ cố thuyết phục anh trở về làm chủ gia tài kếch sù v́ họ không muốn chịu trách nhiệm giữ măi của cho người khác! Nhưng anh không chịu và trao tài sản cho chính quyền quản trị, c̣n anh lại lang bạt kỳ hồ dưới trăng sao, lúc ở gầm cầu, khi ngoài đồng ruộng bao la, khiến chính người xem cũng thích thú.
Cách đây 831 năm, bên trời Ư cũng có một vị anh hùng hảo hớn khác tên là Phanxicô. Chàng thanh niên lăng mạn này là con trai lớn của một nhà buôn tơ lụa gấm vóc giàu có thành Assisi, miền Umbria, ăn chơi khét tiếng. Cha chàng buôn bán với giới thương gia giàu có bên Pháp, nên khi chàng ra đời, ông liền đặt tên cho con là François, “Người Pháp” (France) v́ ông rất yêu nước Pháp. Từ nhỏ chàng đă được nghe những gánh hát dạo ca ngợi công danh sự nghiệp của các bậc anh hùng tứ chiếng, nên Phanxicô cũng ước mơ sống cuộc đời chọc trời khuấy nước như họ! Khi chàng vừa tṛn 20 tuổi, th́ hai thành phố Assisi và Perugia gây hấn với nhau. Chàng bèn sắm sửa binh khí rồi đầu quân với thành nhà là Assisi. Không may bị bắt làm tù binh, Phanxicô bị nhốt tại Perugia một năm trời. Nhờ cha mẹ đóng tiền chuộc mạng, nên Phanxicô được tha, nhưng chàng lại tiếp tục giấc mơ tang bồng hồ thỉ.
Lần này th́ chàng đầu quân với chư hầu “Walter de Brienne” ở miền Nam nước Ư đánh lại quân Đức để bảo vệ Giáo Hoàng. Ngạo nghễ trên lưng chiến mă với bộ nhung y đắt tiền, (ngày xưa các hiệp sĩ phải tự sắm nhung y, ngựa và người hầu để cùng đi với ḿnh lập công danh) chàng chiến sĩ “miệng c̣n hôi sữa” hết sức đắc ư. Nhưng dọc đường, chàng gặp một hiệp sĩ thứ thiệt già dặn phong sương, nhưng vơ phục nhàu nát, khiến chàng hổ thẹn v́ cái giàu sang yếu ớt của ḿnh. Bèn trao đổi nhung y cho nhau. Đến một quán trọ, chàng bỗng dưng ngă trọng bệnh nên phải nằm lại dưỡng bệnh, không thể đầu quân theo ư muốn. Trong lúc nửa tỉnh nửa mê, chàng như nghe tiếng nói từ trời vang xuống:
“Phục vụ ông chủ hay phục vụ tôi tớ, đàng nào lợi hơn?”
Phanxicô không hiểu câu nói đó có ư nghĩa ǵ. Mệt mỏi, thất vọng, đầu óc chưa minh mẫn nên cũng không chú ư bao nhiêu, nhưng câu hỏi cứ theo đuổi chàng măi. Sau một thời gian dài trị bệnh, Phanxicô lên ngựa trở về quê cũ tưởng sẽ khuây khỏa với nếp sống trước kia chờ ngày lên đường một lần nữa chinh phục công danh. Tuy nhiên, rượu thịt lần này sao kém ngon, hội hè đ́nh đám không đủ sức lôi cuốn như xưa! Mọi sự bỗng trở nên lạt lẽo, vô vị.
Một hôm, chàng thơ thẩn cỡi ngựa giết th́ giờ ngoài thành th́ một người cùi xuất hiện trước mặt chàng xin được bố thí vài xu. Vẻ tàn phá thân h́nh người ăn mày ghê tởm đến nỗi “hiệp sĩ” bỏ chạy. Nhưng một sức mạnh nội tâm trách chàng nỡ nào đối xử vô t́nh như vậy đối với người tàn tật khiến chàng điều khiển ngựa đưa chàng trở lại. Chàng xuống ngựa, đặt đồng tiền vào bàn tay lở loét hôi hám, rồi ôm hôn người anh em xấu số! Khi nh́n lại, th́ người ăn mày đă biến mất. Phanxicô hiểu ngay rằng Đức Kitô đă hiện ra với chàng dưới h́nh một người cùi. Từ đó Phanxicô thay đổi hướng đi. Nhiều lần chàng cởi cả áo đắt tiền đang mặc trên ḿnh trao cho người trần truồng, và cả tiền bạc nữa.
Rồi ngày này đến ngày nọ, chàng thanh niên 25 tuổi cứ thơ thẩn ngao du đó đây vô định. Một hôm con ngựa định mệnh đưa chàng đến nhà thờ thánh Đa-mi-a-nô đổ nát ở ngoại thành Assisi. Có cái ǵ thúc đẩy chàng vào đó cầu nguyện. Bỗng trên thánh giá, chàng thấy h́nh như tượng Chúa chịu nạn nói với chàng ba lần: “Phanxicô ơi, con hăy sửa lại nhà Cha đang đổ nát!”
Tưởng Chúa nói ḿnh phải sửa lại ngôi nhà thờ chàng đang qùy cầu nguyện này quả thật đang đổ nát thật, nên Phanxicô với tấm ḷng đơn sơ, liền về nhà chất đầy tơ lụa của bố lên lưng ngựa đem bán đi cùng với con ngựa, rồi lấy tiền trao cho vị cha sở nghèo nàn của nhà thờ thánh Đa-mi-a-nô và xin phép cho ḿnh ở lại luôn với ngài. Linh mục đồng ư cho Phanxicô ở lại nhưng không lấy tiền. Phanxicô bèn ném túi tiền trên thành một cửa sổ nhà thờ rồi quên luôn.
Ông Bernadone, bố của Phanxicô, được tin giận lắm, đến nhà thờ bắt con về, nhưng chàng đă bỏ trốn khiến bố không bắt được. Ít hôm sau, Phanxicô tự trách ḿnh là hèn nhát nên sau mấy ngày ăn chay cầu nguyện, chàng xuất hiện trở lại trong thành, nét mặt bơ phờ đói ăn, quần áo xốc xếch tiều tụy khiến dân chúng sỉ vả đánh đuổi và gọi chàng là một tên khùng. Bố chàng xấu hổ, bắt con về nện cho một trận thừa sống chí chết, xích chân chàng lại rồi đem bỏ đói nhốt dưới hầm nhà. Khi cha đi vắng th́ mẹ chàng tháo cũi cho chim sẻ thoát thân. Cha chàng lại theo đến Đa-mi-a-nô đánh thêm cho một trận tàn nhẫn nữa rồi tuyên bố, “hoặc trở về gia đ́nh, hoặc khước từ gia tài mà chàng có quyền thừa hưởng, đồng thời phải hoàn trả số tiền bán lụa và ngựa hôm nọ cho ông.”
Phanxicô bằng ḷng cho bố truất quyền thừa kế nhưng không chịu trả số tiền hôm nọ lấy lư do là tiền của Chúa và của người nghèo. Do đó cha chàng thưa ra trước ṭa án Giáo Hội do Đức Giám Mục thành Assisi là Guido chủ tọa. Vị Giám Mục chánh án ra lệnh Phanxicô trả lại tiền cho bố và hăy tin tưởng vào Chúa quan pḥng. Phanxicô tuân lệnh tức khắc, và c̣n đi xa hơn nũa: “Quần áo đang mặc đây cũng là của cha con, vậy xin trả lại cho ông ấy!” Nói rồi liền trút bỏ bộ quần áo đang mặc trả lại cho bố, c̣n ḿnh th́ trần như nhộng trong mùa đông lạnh buốt. Người ta liền trao cho chàng bộ quần áo của người làm vườn của ṭa Giám Mục. Phanxicô lấy phấn vẽ một h́nh thánh giá trên áo, mặc vào rồi đi t́m chỗ trú ngụ, vừa đi vừa hát nghêu “Tôi là tên mơ của Đấng Tối Cao!” Thấy một anh chàng nửa khùng nửa điên “nghèo khướt mùng tơi” không có ǵ, bọn cướp bèn đánh cho một trận nên thân rồi quăng xuống một hố sâu đầy tuyết. Chàng lóp ngóp ḅ lên, vừa đi vừa ca ngợi Thiên Chúa đă cho phép chàng được chịu nhục v́ danh Chúa.
Trong thành Gubbio lúc đó có một người từ tâm biết tung tích của chàng trước kia đă cho chàng trú ngụ và cho một bộ quần áo thông thường của khách hành hương thời bấy giờ gồm một áo dài, một giây thắt lưng và một đôi giày. Chàng ra đi tay cầm gậy trở về Đa-mi-a-nô ở Assisi và bắt đầu “sửa lại nhà Cha đang đổ nát.” Ngày ngày chàng vào thành, ăn mày từng viên gạch, từng mớ đá sỏi... kêu gọi người có nghề xây cất hăy t́nh nguyện đi “sửa lại nhà Cha đang đổ nát”. Chàng nói: “Ai cho nhà Chúa một viên gạch, sẽ được phần thưởng của một viên gạch. Ai cho nhà Chúa hai viên gạch sẽ được phẩn thưởng hai viên gạch...” Cứ vậy, ngày lại ngày chàng kêu gọi dân thành đóng góp công của xây lại nhà Cha. Có người chửi rủa, có người hưởng ứng, và “nhà Cha” cứ từ từ đứng dậy.
Phanxicô tiếp tục đi xây lại những thánh đường đổ nát khác. Cuối cùng chàng tới một nhà nguyện nhỏ đă được hiến dâng cho Nữ Vương Các Thánh Thiên Thần, gọi là Portiuncula (mảnh đất nhỏ) đă bị các tu sĩ Benedictine bỏ phế v́ đổ nát hoang tàn. Chàng liền bắt tay sửa sang tươm tất rồi đóng đô tại đó luôn. Nhân ngày lễ kính thánh Matthias năm 1208, bài Phúc âm mà vị linh mục đọc trong thánh lễ dâng tại Portiuncula, đă được phục chế nhờ công của Phanxicô, như sau: “Hăy đi rao giảng rằng Nước Trời đă đến gần... Các con được ban cho không th́ cũng hăy đem cho không như vậy... Đừng mang vàng bạc giắt lưng... đừng đem hai áo, đừng đi giầy, hoặc cầm gậy... Ta sai các con đi như sai chiên vào giữa bầy sói.” (xem Mt. 10: 7-19) Lời Chúa đánh thẳng vào trái tim chàng. Phanxicô coi đó là khuôn vàng thước ngọc cho cuộc đời chàng muốn sống. Bèn vứt bỏ thắt lưng da, cởi phăng áo ngoài, vứt luôn đôi giày đang đi, quăng luôn cả cái gậy cầm tay... Chàng lấy một sợi giây thừng cũ thắt lưng, chỉ giữ lại cái áo nghèo nàn, y phục căn bản của đám chăn chiên thời đó và đi loan báo Tin Mừng Nước Chúa...
Bài giảng đầu tiên của Phanxicô trong nhà thờ San Giorgio rất đơn sơ thành kính và hấp dẫn đến nỗi thiên hạ từ chỗ nhạo báng phỉ nhổ con người mà họ cho là điên khùng, đến chỗ kính phục trang thanh niên quả cảm có tài hùng biện khiến mọi người như bốc lửa sám hối. Sức lôi cuốn của chàng mănh liệt, và cái nghèo Phúc Âm mà chàng cổ vơ trở nên hấp dẫn đối với nhiều thanh niên con nhà giàu sang quyền qúy đến nỗi họ bắt đầu kéo đến với chàng. Người đầu tiên không c̣n ai nhớ tên v́ anh này đến rồi đi như một cơn gió thoảng. Người thứ hai là Bernard da Quintavalle, một người có thế lực và một thương gia giàu khét tiếng trong vùng. Nghe đồn Phanxicô là một thanh niên ăn chơi có hạng nay bỗng từ bỏ giàu sang để sống cuộc đời nghèo khó v́ Nước Trời, nên Bernard muốn kiểm chứng xem hư thực thế nào. Bèn mời về nhà tiếp đăi vào hạng thượng khách và xă giao chuyện văn. Tối đến, Bernard làm ra vẻ ngủ say ngáy đều đều, nhưng mắt vẫn hé mở để quan sát vị khách qúi. Phanxicô đối lại cũng ngáy vang rền như sấm, mục đích để đánh lạc hướng chủ nhà, mặt khác cũng lắng tai nghe xem tiếng ngáy của bạn thật hay giả. Tưởng rằng Bernard đă ngủ say thật rồi, Phanxicô lén thức dậy, sang pḥng kế bên, qùy gối cầu nguyện, than thở cùng Chúa suốt đêm xin ban sức mạnh cho chàng thực hiện lời Chúa dạy tại Nguyện Đường Portiuncula.
Sáng hôm sau, Bernard hỏi bạn: “Một người muốn từ bỏ của cải của ḿnh th́ phải làm ǵ?”
“Tôi nghĩ người đó nên trả lại cho Đấng đă ban cho ḿnh của cải ấy!”
Bernard nói: “Bạn nói rất hợp ư tôi!”
Phanxicô bàn: “Vậy chúng ta hăy ra nhà thờ, mở Phúc Âm xem Chúa dạy ta phải làm ǵ!”
Hai anh em liền kéo nhau đi dự thánh lễ cùng với một người bạn thứ ba. Họ mở sách thánh ba lần và gặp những đoạn sau đây:
(1) “Nếu ngươi muốn nên trọn lành th́ hăy về bán hết của cải mà cho người nghèo.” (Mt. 19:21)
(2) “Khi đi đường đừng mang theo bất cứ cái ǵ.” (Mt. 10:10)
(3) “Ai muốn theo Ta th́ hăy từ bỏ chính ḿnh, vác thập giá ḿnh mà theo.”
Phanxicô liền nói: “Chúng ta sẽ làm đúng / và sống như vậy!” Bernard liền thực hành ngay, đem bán hết gia sản lấy tiền bố thí và dân nghèo kéo đến đông như kiến. Trong lúc Bernard và Phanxicô đang “phóng tay” bốc từng nắm tiền phân phát cho ai đến trước mặt họ bất kể thân sơ th́ một vị linh mục tên là Sylvester chen lấn đám đông và nhắc Phanxicô rằng chàng đă mua thiếu của ngài một số gạch đá mấy năm trước, khi xây lại các nhà thờ đổ nát. Phanxicô vui vẻ vốc một nắm tiền đưa cho linh mục, và hỏi nếu ngài muốn thêm th́ cứ việc nói, chàng sẽ đưa thêm. Vị linh mục lấy tiền bẽn lẽn bỏ đi. Sau này, xấu hổ trước lương tâm của chính ḿnh, linh mục Sylvester từ bỏ tham lam, gạch đá, tiền bạc rồi đến xin đầu quân với Phanxicô sống đời khó nghèo. Sau này đă trở nên một vị linh mục thánh thiện gương mẫu.
Từ đó, danh tiếng Phanxicô vang dậy khắp nơi. Chàng không phải đi t́m thiên hạ mà thiên hạ t́m đến với chàng. Chỉ vài tháng sau, Phanxicô có 12 môn đệ tiên khởi như Chúa Giêsu. Nhóm này không có tôn chỉ, mục đích rơ rệt, không có chương tŕnh hành động và cũng không có một kế hoạch nhất định nào cả. Đêm th́ t́m những kho lẫm bỏ trống để ngủ, ngày th́ đi làm mướn trong các nông trang để kiếm ăn. Luật ḍng của họ đơn sơ với câu “Nếu người muốn trở nên trọn lành th́ hăy về bán hết của cải, bố thí cho kẻ nghèo, rồi đến theo Ta!” (Mt. 19:21)
Thời đó (cũng như thời nay) có quá nhiều phe nhóm, ḍng tu, tu hội chủ trương cải cách, canh tân, đổi mới, lung tung... chỉ trích Giáo Hội, chống báng giáo quyền và đánh phá lẫn nhau, khiến Đức Giáo Hoàng In-nô-cen-tê III gặp rất nhiều khó khăn, và đă phải gạt bỏ nhiều trường hợp xin phép lập ḍng, lập hội quá khích khủng khiếp. Tuy nhiên, khi thấy nhóm này không đánh phá ai mà chỉ có mục đích sống nghèo khó đúng theo tinh thần Phúc Âm nên ngài miễn cưỡng chuẩn y luật ḍng cho họ. Ngoài một linh mục không có ǵ xuất sắc lắm, nhóm chỉ gồm toàn những con người không am hiểu thần học, nhưng xét v́ nếp sống thật sự khó nghèo của họ nên Đức Giáo Hoàng cũng cho phép họ rao giảng ăn năn sám hối trong các cộng đoàn dân Chúa với sự chấp thuận của vị Giám Mục sở tại. V́ tinh thần khiêm tốn khó nghèo, nhóm Phan-sinh tiên khởi này t́nh nguyện không tiến lên chức linh mục. Chủ yếu lúc đầu họ chỉ là một phong trào giáo dân, hoặc là một Tu Hội Đời như danh từ ngày nay... Sau này, họ được chuẩn nhận là một Hội Ḍng với danh hiệu là “Ḍng Anh Em Hèn Mọn” v́ họ muốn sống khiêm tốn trong tinh thần khó nghèo tuyệt đối.
Hai câu chuyện, hai tinh thần khó nghèo!
Cái nghèo khó lăng mạn thứ nhất mô tải trong phim Ma Pomme gần như là một bài ngụ ngôn hài hước tân thời! Với giọng điệu mỉa mai châm biếm, toàn thể câu chuyện là một lời phản đối xă hội duy vật mất nhân tính, nhất là nếp sống sa đọa hoàn toàn giả dối của giới giàu sang trưởng giả, không c̣n biết những đau khổ vương vất của đồng loại trong thế chiến thứ hai mới chấm dứt, c̣n khét lẹt mùi thuốc súng đâu đây! Ngược với cuộc đời g̣ bó lúc nào cũng theo đúng lễ nghi giả tạo, c̣n ǵ thoải mái hơn là ngồi bên ḍng sông Seine lững lờ trôi dưới ánh trăng vàng tiên cảnh, quên đi t́nh đời đen bạc, thả hồn lên cao mà thưởng thức cái đẹp tự nhiên không mất tiền mua - và giàu có bao nhiêu cũng không mua được - giang đôi cánh tay ôm hết vào ḷng không bỏ sót một tạo vật nào và không cần bận tâm đến ngày mai với những bon chen ích kỷ.
Tuy nhiên, trên thực tế th́ cái nên thơ này chỉ đẹp khi cái bụng không lép kẹp, khi trời quang mây tạnh không mưa băo, không có cái rét thấu xương của những đêm đông lạnh buốt, buồn tủi! Cái nghèo này không phải là cái nghèo lư tưởng mà Đức Kitô rao giảng và khuyến khích cho ta noi theo. Ngược lại, Chúa c̣n kêu gọi cá nhân và xă hội, hăy làm mọi cách để cải thiện nếp sống nghèo hèn v́ nó không hợp với phẩm giá con người!
Trái lại, tinh thần nghèo khó trong câu chuyện thứ hai là một sự kiện lịch sử đă thực sự xảy ra hồi cuối thế kỳ thứ 12 đầu thế kỷ thứ 13. Một nhóm người lành mạnh cả thể xác lẫn tinh thần, trong số đó không thiếu giới thượng lưu giàu có đă lấy khó nghèo làm lư tưởng sống để thực hiện lời kêu gọi “trở nên trọn lành như Cha các con ngự trên trời là Đấng trọn lành”. (Mt. 5:48) Vị Sáng Lập Hội Ḍng của họ đă cưới Nàng Khó Nghèo làm vợ. Tuy vậy, lư tưởng nghèo khó tuyệt đối mà nhóm mười hai anh em Phan sinh theo đuổi lúc ban đầu không thể áp dụng được trong thực tế cho một Hội Ḍng về sau lớn mạnh như cây cổ thụ cành lá xum xuê che khắp mặt địa cầu mà có lúc số tu sĩ lên đến con số hàng chục ngàn người. Nếu vậy th́ chúng ta phải hiểu nghĩa khó nghèo như thế nào để có thể “trở nên trọn lành” theo lời kêu gọi của Đức Kitô?
Từ điển Bách Khoa Kinh Thánh giải nghĩa người nghèo là người không có nhiều của cải vật chất. Tuy nhiên, nghèo khó không phải là dấu chỉ Chúa không hài ḷng đối với họ. Trái lại là đàng khác. (Mt. 5:3; Lk. 6:20) Ai chấp nhận nghèo khó với một tinh thần công chính sẽ được Thiên Chúa che chở.
“Chúa là thành che chở người bị áp bức.. trong những lúc ngặt nghèo... tiếng những người nghèo khổ Chúa chẳng hề quên đâu.” (Tv. 9: 10, 11, 13) Người Kitô hữu được giáo dục để biết bổn phận phải có đối với người nghèo khó và sẽ được tưởng thưởng nếu cư xử tốt với họ. “Con ơi, đừng tước đoạt miếng cơm manh áo người nghèo, đừng để kẻ khốn cùng luống công chờ đợi!” (Hc. 4:1) “Hỡi những kẻ Cha ta chúc phúc!” (Mt. 25:34-40) Trong cộng đồng Dân Chúa, không được căn cứ trên địa vị sang hèn, giàu nghèo mà đối xử với bất cứ ai. “Thiên Chúa đă chẳng chọn kẻ nghèo khó trước mặt người đời để họ trở nên người giàu đức tin và thừa hưởng vương quốc Người đă hứa ... hay sao?” (Gc. 2:2-6) Đức Giêsu chẳng gọi những người nghèo khó tinh thần là những người được chúc phúc đó sao? Người nghèo khó tinh thần là người đơn sơ như trẻ nhỏ, không lệ thuộc vào lư luận viển vông, không bị ràng buộc với những ǵ thuộc phạm v́ trần tục như của cải, con người, và ngay cả nơi chốn nữa... không lo lắng v́ ngày mai, tuyệt đố tin tưởng vào Chúa Quan Pḥng, những người vui ḷng vâng theo Thánh Ư Chúa bất cứ nơi nào họ sinh sống, với bất cứ số lượng của cải nào họ đang có hoặc không có.
Khi Đức Hồng Y Etchegary nói trong cuộc thăm viếng Kitô hữu Việt Nam hai miền Nam, Bắc hồi thập niên 80 rằng “Cây mọc trong kẽ đá cũng phải nở hoa” là ngài có ư ám chỉ đến tinh thần nghèo khó trên đây. Không phải người giàu không có tinh thần nghèo khó, và không phải không có người nghèo ham mê của cải thế gian.
Sách Giáo Lư Công Giáo viết rằng ngay từ những thế kỷ đầu, Tinh Thần Nghèo Khó hay Nếp Sống Nghèo Khó đă được nh́n nhận như là một lối sống khả dĩ giúp người môn đệ Chúa đạt tới t́nh trạng trọn lành. Nói một cách tổng quát th́ lối sống trọn lành này dành cho hai nhóm người: một là những người sống thành những Cộng Đoàn Tu Sĩ, và hai là những người sống trong những cơ chế trần thế (tu hội đời, triều). Hai nhóm người này có chỗ giống nhau và có chỗ khác nhau.
Những người sống đời tu sĩ phải hội đủ 4 yếu tố sau đây: (1) một nếp sống thường trực ổn định (2) sống trong cộng đoàn (3) tuân giữ lời khuyên Phúc Âm (4) tuyên khấn ba lời hứa Vâng lời, Khiết tịnh, Khó nghèo.
T́nh trạng ổn định của một cuộc sống do hoàn cảnh của cuộc sống ấy tạo ra. Do đó một người đă chọn sống trong một hoàn cảnh nhất định nào đó th́ không c̣n tự do, về mặt luân lư, để từ bỏ nếp sống ấy. Tỉ dụ một người đă chọn sống nhiệm tích hôn nhân th́ không có quyền từ bỏ người phối ngẫu cho đến khi một trong hai người ĺa đời. T́nh trạng tu tŕ, từ chức phó tế trở lên, cũng phải tuyên khấn sống đời khiết tịnh cho đến chết, trừ trường hợp đặc biệt được gỡ bỏ lời thề.
Những người sống trong các Tu Hội Đời cũng tuyên khấn vâng lời, khiết tịnh, khó nghèo nhưng không công khai mà có tính cách riêng tư, nghĩa là không thể nhận ra họ thuộc Hội Ḍng nào và họ cũng không bắt buộc phải sống nếp sống cộng đoàn. Gọi họ là Tu Hội Đời v́ đặc tính của các thành viên là làm việc trong môi trường trần thế, bên ngoài hàng rào tu viện và cộng đoàn. Họ có thể về sống chung với cộng đoàn của họ tại một địa điểm nhất định ngoài giờ làm việc, và sinh hoạt như các tu sĩ của một hội ḍng.
Sống chung th́ gồm 2 điểm: thành v́ên của một Hội Ḍng sống dưới quyền điều khiển của một vị phụ trách (bề trên) với một nội quy rơ rệt (luật ḍng) và sống chung với những thành viên khác. Sống chung là quy luật tổng quát, trừ trường hợp có lư do chính đáng.
Dù sao th́ nếp sống trong Hội Ḍng hoặc Tu Hội Đời đều là những trạng thái trọn lành, nghĩa là mục đích chính là “nên thánh” noi theo bước chân của Thày Chí Thánh bằng một T́nh Yêu Chúa nồng nàn và phục vụ nhu cầu của người khác. Một trong những khía cạnh sầu thảm nhất trong đời sống Công giáo hiện đại là nhiều linh mục, tu sĩ ở một số quốc gia đă từ bỏ cộng đoàn của họ viện cớ rằng những cộng đoàn này đă “bị tục hóa”. Hiện tượng này có nhiều lư do, nhưng trọng tâm vấn đề là những tư tưởng ngoại lai đă xâm nhập vào những cộng đoàn này và gợi cho họ một năo trạng mới theo đó th́ con người phải thay đổi theo mức thang giá trị của thời đại ḿnh đang sống. V́ vậy nên mới có một số người quả quyết rằng “đời sống tu tŕ với những yếu tố đặc thù của các Hội Ḍng hoặc Tu Hội đang bị dần dần loại bỏ.”
Quả thực là một lối suy luận hồ đồ. Cứ nh́n vào những nhóm người đi “tầm sư học đạo” với đủ mọi “thầy, bà” gọi là “huyền nhiệm” cũng thấy rằng ngay trong thời đại này con người vẫn khát khao thèm muốn một nềp sống tinh thần ổn định cho một tâm hồn bất ổn. Tiếc thay, tinh thần nổi loạn và mất đức tin của một số tín hữu đă khiến cho thiên hạ gạt bỏ Tin Mừng của Chúa. Nếu chúng ta chịu khó trở về nguồn gốc T́nh Yêu th́ nếp sống và tinh thần nghèo khó của hai nhóm tu tŕ trên đây không phải là không thích hợp với giáo dân đâu. Những người sống bậc hôn nhân cũng có thể dấn thân sống trạng thái trọn lành theo bốn yếu tố trên đây: (1) một nếp sống ổn định dưới mái ấm gia đ́nh, (2) sống chung trong cộng đoàn bé nhỏ gia đ́nh là giáo hội tại gia, (3) giáo dân khi chịu phép rửa th́ đă cam kết từ bỏ ma qủy và t́nh nguyện sống tinh thần Phúc Âm, (4) vợ chồng cũng có ba lời khấn Vâng Lời, Khiết Tịnh, Khó Nghèo có thể được diễn giải như sau:
(a) đức vâng lời của vợ chồng đối với nhau có nghĩa là tương kính và đồng thuận trong mọi vấn đề
(b) đức khiết tịnh của cặp hôn nhân là trung thành yêu thương nhau đến trọn đời
(c) đức khó nghèo của cặp hôn nhân là vui ḷng chấp nhận bất cứ hoàn cảnh nào Chúa trao, không tham lam mơ ước của người. Nếu dư giả hơn người th́ không nên quên rằng của cải ấy là của Chúa trao cho ta quản lư và một ngày kia sẽ phải tính sổ với Ông Chủ.
Thánh Phaolô nói: “Gieo ít th́ gặt ít, gieo nhiều th́ gặt nhiều!” (2 Cr. 9:6) Tiếp tục suy tư theo ư đó th́ cũng có thể nói không gieo th́ không gặt! “Quả thật, anh em biết Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta đă có ḷng quảng đại như thế nào: Người vốn giàu sang phú qúy, nhưng đă tự ư trở nên nghèo khó v́ anh em, để lấy cái nghèo của ḿnh mà làm cho anh em trở nên giàu có!” (2 Cr. 8:9)
Đức thánh Cha Gioan Phaolô II quảng diễn câu này như sau: “Xét theo những lời trên đây, th́ đức khó nghèo đă thực sự bước vào nội tạng ân sủng cứu độ của Đức Kitô. Nếu không có đức nghèo khó th́ không thể nào hiểu được mầu nhiệm thiên tính mà Thiên Chúa ban tặng cho loài người, một tặng sủng đă được thể hiện một cách tinh tường trong con người Đức Giêsu Kitô. Cũng v́ lư do đó mà ta có thể thấy đức khó nghèo nằm ngay ở trung tâm Phúc Âm, ngay đoạn đầu của sứ điệp Tám Mối Phúc Thật: “Phúc thay ai có tinh thần nghèo khó!” (Mt. 5: 3) Đức khó nghèo phúc âm mặc khải cho con mắt linh hồn viễn ảnh của mầu nhiệm toàn diện “đă được dấu kín trong Chúa từ bao đời nay”. Chỉ có những ai “khó nghèo tinh thần” th́ mới có đủ khả năng để hiểu cái khó nghèo của Đấng vô cùng giàu sang. Cái nghèo khó của Đức Kitô che dấu cái vô cùng giàu sang của Thiên Chúa “một sự giàu sang không tạo vật nào có thể diễn tả nổi, mà chỉ có thể diễn tả trong khó nghèo mà thôi.” [1]
Tinh thần nghèo khó Phúc Âm, cái nghèo khó cứu độ mà Đức Kitô rao giảng và đem áp dụng cho bản thân Ngài, không một nền văn chương loài người nào, dù sáng sủa hoa mỹ đến đâu, có thể cắt nghĩa được. Chúng ta chỉ có thể hiểu lờ mờ qua những câu chuyện ngụ ngôn cũng như một người nh́n một phong cảnh đẹp lờ mờ qua một màn sương dầy đặc, từ một địa điểm xa xôi. Tuy nhiên, Cha John Hardon trong sách Giáo Lư Công Giáo khẳng định rằng ngày nay tinh thần và nếp sống khó nghèo vẫn có thể áp dụng được. “Những ai được ơn gọi sống khó nghèo th́ sẽ nhận được sức mạnh tinh thần để thích nghi, không phải với thế gian, mà với 'nếp sống khiết tịnh và khó nghèo mà Đức Kitô đă tự nguyện chọn cho chính Ngài, và Mẹ Thánh Ngài cũng đă chọn cho ḿnh'.” [2]
Sách Gương Chúa Giêsu, chương 49 viết: [3]
“Con ơi, nếu con muốn tiến trên đường trọn lành, th́ hăy gỡ bỏ tâm hồn con khỏi mọi ràng buộc trần tục. Trước tiên hăy vứt bỏ những ǵ có thể đưa con vào đường tội lỗi. Sau đó th́ hăy tiến lên cao hơn một bậc nữa để thực hành đức nghèo khó. Đức nghèo khó là ḷng ham muốn vứt bỏ dần dần những sự vật trong cuộc sống hằng ngày cũng như con cắt đứt những sợi giây trói buộc không cho con lại gần với Cha. Nhân đức khó nghèo t́m cách loại bỏ hết những ǵ không cần thiết tuyệt đối cho cuộc sống thường nhật.
Tất nhiên các con không thể loại bỏ hết mọi sự trong cuộc đời trần thế của các con được. Các con phải ăn uống, làm việc, nghỉ ngơi, và lo liệu cho tương lai. Tuy nhiên, khi đức khó nghèo lớn mạnh trong tâm hồn các con, th́ các con sẽ làm những việc này một cách hoàn hảo hơn. Các con sẽ có ư muốn làm như Cha đă từng làm trong cuộc sống hằng ngày của Cha, để thành công không những trên thế gian này mà c̣n trên Thiên Đàng nữa.
Nhân đức này sẽ giúp các con sử dụng của cả́ được ban cho các con v́ ḷng yêu mến Cha. Các con sẽ t́m cách làm những điều này để làm vui ḷng Cha. Các con sẽ thấy đó là những việc làm giúp các con đến gần với Cha hơn trong cuộc sống hằng ngày. Nó sẽ giúp các con suy nghĩ với ít thành kiến hơn bởi v́ các con sẽ ít có tham vọng trần tục hơn”.
Nghèo khó về mặt tinh thần không có nghĩa là không được phép sở hữu một cái ǵ cả. Nó chỉ có nghĩa là không để của cải thế gian trói buộc ḿnh. Một người như vậy sẽ không muốn sở hữu bất cứ một cái ǵ có thể đưa họ đến tội lỗi. Hơn nữa, một người như vậy chỉ muốn làm bạn với Chúa mà thôi, nên họ sẽ loại bỏ những ǵ khả dĩ “cạnh tranh” với Chúa càng nhiều càng tốt. V́ chọn Chúa là sự TRỌN HẢO nên người có đức nghèo khó dễ quay lưng lại với những ǵ không trọn hảo. Làm như vậy, th́ sẽ dễ suy gẫm về Chúa, nói đến Chúa và nói với Chúa nhiều hơn, và làm vui ḷng Chúa một cách trọn hảo hơn!
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đă nói cách đây lâu rồi “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, v́ nước Thiên Đàng là của họ!”, nhưng lời đó vẫn c̣n đúng. Tuy vậy số người t́m hiểu những lời vàng ngọc này ít ỏi làm sao, nói ǵ đến thực hành. Chúng con tự nhận là khôn ngoan nhưng biết bao nhiêu lần chúng con không biết dành ưu tiên cho Chúa trong đời sống hằng ngày của chúng con. Ngoài miệng th́ chúng con công nhận rằng Chúa là kho báu lớn nhất, vậy mà chúng con lại không nghĩ đến việc hạn chế bớt những quan tâm trần tục khác để chú ư đến Chúa và phục vụ Chúa nhiều hơn. Sống một đời sống phi lư như vậy quả là cực nhọc lắm, Chúa ơi! Chúng con sẽ cố gắng sở hữu ít của cải hơn bắt đầu ngay từ hôm nay để Chúa không bị che lấp trong tâm trí chúng con. Xin Chúa đổ tràn đầy tâm hồn chúng con những tư tưởng hướng về Chúa để chúng con ca ngợi, chúc tụng và tôn vinh thánh danh Chúa. Amen.
Louis Lê Xuân Mai
[1] Redemptionis Donum, Tặng Phẩm Cứu Độ, Tông Huấn của ĐTC Gioan Phaolô II ban hành ngày 25 tháng 3, 1984.
[2] The Catholic Catechism - Giáo Lư Công Giáo, phần II, Growth In Holiness - Tăng Trưởng Trong Thánh Tính, của Cha John Hardon.
[3] Tất cả phần trích “Sách Gương Chúa Giêsu” viết nghiêng dưới đây lấy từ Sách My Daily Bread, The Way Of Imitation Follwing Jesus In Daily Life, Chapter 49 The Virtue Of Poverty.