THIÊN CHÚA LÀ T̀NH YÊU

 

TRÁI TIM ĐỨC CHÚA GIÊSU HAY NHỊN HAY THƯƠNG VÔ CÙNG

(kinh cầu Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu)

 

 “Thiên Chúa Cha yêu Thày thế nào th́ Thày cũng yêu các con như vậy. Các con hăy ở trong t́nh yêu của Thày. Nếu các con giữ các giới răn của Thày th́ các con sẽ ở trong t́nh yêu của Thày, cũng như Thày đă giữ các giới răn của Cha Thày, nên Thày ở trong t́nh yêu của Cha Thày. Thày nói các điều ấy với các con để các con được hưởng niềm vui của Thày, và để niềm vui của các con được trọn vẹn. Đây là giới răn của Thày: Các con hăy yêu thương nhau như Thày đă yêu thương các con”.

 

Jn. 15:9-12

?

 

Mỗi lần nh́n lên bầu trời đầy sao tôi không khỏi nhớ lại thời thơ ấu, ở một miền quê hẻo lánh bên cạnh ḍng sông Mă hùng vĩ, anh em chúng tôi thường thi nhau đếm 'một ông sao sáng, hai ông sáng sao, ba ông sao sáng, bốn ông sáng sao....' Đếm chưa được bao lăm th́ đă lăn quay ra ngủ hết rồi. Giờ đây, sau hơn bốn phần năm thế kỷ, tấm thân giang hồ xa quê hàng nửa trái đất, nh́n lên bầu trời đầy sao một đêm nọ lại bất giác nhớ tới Lời Chúa phán cùng tổ phụ Abraham xưa: “Ngươi hăy nh́n lên bầu trời thử đếm xem được bao nhiêu ngôi sao trên đó”. Cùng lúc, tâm trí tôi tự đặt ra một câu hỏi, tại sao Chúa quyền năng vô biên lại có thể để cho Con Một yêu dấu của Ngài một thời gian phải xuống thấp hơn các thiên thần, bị lên án ngang với hàng trộm cướp rồi bị chết 'nhục nhă' trên cây thập giá? Tôi bâng khuâng măi không t́m ra được câu trả lời thỏa đáng. Thân phận tôi hèn hạ, trước mặt Chúa tôi đâu đă bằng hạt cát, tất cả những việc Chúa làm đều là những mầu nhiệm kỳ diệu th́ tôi hiểu thế nào được ư nghĩa của cái chết vừa bi thương vừa hùng tráng của Con Thiên Chúa. Thánh vịnh số 8 (câu 4-5) nói: “Ngắm tầng trời Tay Chúa sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đă an bài, th́ con người là chi mà Chúa cần lưu ư, phàm nhân là ǵ khiến Thiên Chúa phải bận tâm!”

Rồi bỗng dưng trong tâm trí tôi hiện lên một chữ YÊU vô cùng to lớn. Đó là câu trả lời của Chúa cho tôi: “Trên trời có bao nhiêu v́ sao th́ Cha c̣n yêu thương con hơn thế nữa!” Đây không phải là một câu nói sáo ngữ hay tượng trưng, mà là một câu nói khẳng định có giá trị tuyệt đối. Thật vậy, thánh Gioan đă được mạc khải để mở đầu Phúc Âm của ngài như sau, “Lúc khởi đầu, Ngôn Từ [1] vẫn hướng về Thiên Chúa, Nhờ Người vạn vật được tạo thành, và không có Người th́ chẳng có ǵ được tạo thành”. (Jn. 1:2-3) Nếu mọi sự đều do Chúa tạo thành th́ tất cả các v́ sao đều do Chúa mà có. Mặt khác, nếu Chúa chịu chết cho tôi th́ mạng sống của tôi đáng giá hơn tất cả các ngôi sao vậy. Chúa đă nói, “Không có t́nh yêu nào lớn hơn t́nh yêu của người thí mạng sống ḿnh cho người ḿnh yêu”. (Jn. 15:13) Nhà bác học vô thần sẽ cho tôi là một tên khùng, nhà bác học Kitô th́ nói họa chăng chỉ có người khùng mới không tin là có Thiên Chúa. Vậy là Thiên Chúa đă xuống thế làm người để chịu chết cho tôi, v́ Chúa thương tôi. Tuy nhiên khoa học tự nhận là rất tiến bộ cũng không đếm nổi có bao nhiêu v́ sao. Có người nói đến con số hàng trăm tỉ thiên hà, mà mỗi thiên hà lại chứa hằng trăm tỉ ngôi sao, và các khoa học gia thế giới đă ước tính có trên bốn trăm ngàn hành tinh có sự sống, th́ làm sao tôi hiểu nổi được T́nh Chúa thương tôi lớn hơn vũ trụ?

 

Thật là mâu thuẫn. Nhưng nh́n kỹ th́ thấy Thiên Chúa toàn làm những việc mâu thuẫn! Bộ óc tí hon của tôi cho đó là nghịch lư, nhưng nghịch lư thế gian là thuận lư của Thiên Chúa, và thuận lư thế gian là điên rồ đối với Thiên Chúa. Xin đan cử một vài chứng minh. Thiên Chúa đă ban cho một thân xác khả tử một linh hồn bất tử. Ngài đă chọn một thiếu nữ nghèo nàn vô danh làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Đấng có mọi sự trong tay sanh ra làm người trong hoàn cảnh thiếu thốn nhất, yếu ớt nhất. Một máng cỏ làm nôi cho một hài nhi sơ sanh. Một thiếu niên 12 tuổi tham luận với giới khoa bảng trong ba ngày liền. Một 'TỬ TỘI' sắp chết hứa ban nước trời cho một tử tội khác cũng sắp chết! Thế gian suốt 2 ngàn năm t́m cách loại bỏ bằng vũ lực, bằng lư luận, bằng chứng minh 'khoa học' rằng con người Giêsu Kitô không có thật mà không làm sao loại bỏ được! C̣n nhiều cái nghịch lư nữa của Thiên Chúa mà giới gọi là 'trí thức' từng chế diễu từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, giới cầm quyền từng bách hại từ triều đại này qua triều đại kia, giới 'khoa học vô thần' từng ngụy biện để mong bác bỏ và lật đổ nhưng vẫn tồn tại và phát triển, c̣n những bộ óc 'uyên bác', những chính khách 'vĩ đại' một thời xưng hùng xưng bá th́ đều đă trở thành tro bụi hết thảy. Riêng 'Ông Thợ Mộc' mà người ta coi thường đó cứ ám ảnh họ hoài, cứ vẫn lôi cuốn thiên hạ theo hoài, cứ dùng những người bé mọn để lật tẩy họ khiến họ trở nên khùng thật! (1 Cor. 1:19...) Phiến đá bị thợ xây loại bỏ đă trở thành đá tảng góc tường (Mt 21:42), tất cả bạo lực hỏa ngục không làm ǵ nổi (Mt. 16:18) Nhiệm mầu thay, vĩ đại thay những công tŕnh của Chúa!

 

 'Con người được sanh ra là để t́m kiếm. Đó là cái vĩ đại của y; tuy nhiên con người sẽ không bao giờ hiểu hoàn toàn bất cứ điều ǵ; đó là cái khốn khổ của y vậy'. (F.M. Bergounioux) Ngày xưa, thiên thần chả nói với thánh Hiêrônimô rằng một tạo vật hữu hạn suy nghĩ về Thiên Chúa vô biên có khác chi một đứa bé múc nước biển đổ vào chén nhỏ đó sao? Nhưng đă có món quà tri thức của Chúa Thánh Linh, tại sao không t́m hiểu thêm một điều ǵ khác về Thiên Chúa để có một lư do mới mà kính yêu Người hơn? Vậy xin qúy bạn vui ḷng miễn chấp nếu sự tŕnh bày có phần thô thiển, vụng về. Thực ra T́nh Yêu Chúa không mới mà cũng chẳng cũ. Nó không Đông mà cũng chẳng Tây. Nó vượt ra ngoài Đông và Tây. Nó mới hơn cái mới, và cũ hơn cái cũ, v́ T́nh Yêu Chúa bao trùm mọi sự và hằng có đời đời.

 

?

 

Có ai biết được bao nhiêu cánh rừng đă bị đốn sạch để làm giấy cho người ta viết lên những câu thơ ca tụng t́nh yêu phù du giữa con người với con người?  Các cụ xưa từng nói 'Thiên địa t́nh chi lô giả' (trời đất là một ḷ t́nh) quả không ngoa! Nhưng sống măi rồi tôi cũng học được vơ vẽ rằng loài người không phải chỉ có một thứ t́nh mà thôi, mà có đến cả bốn loại t́nh cảm khác nhau:

 

-         Thứ nhất là t́nh yêu gia tộc, một t́nh cảm đầu tiên tự nhiên bộc phát gắn bó con người với những nhân vật chung quanh, bắt đầu từ cha mẹ, anh chị em, họ hàng đến ngọn cây, mảnh vườn, ngôi mộ, và những gia súc quen thuộc, một thứ t́nh cảm dĩ nhiên quá cho nên người ta thường coi như không có. Đến khi nó chuyển sang thành căm thù độc hại th́ lúc đó đă quá trễ;

-         Thứ hai là t́nh bằng hữu do một sự tự do lựa chọn giữa những người không máu mủ, nhưng lại có thể kết bạn thâm giao bất chấp địa vị, hoàn cảnh, sang hèn, v́ 'đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu', như chuyện Bá Nha, một vị quan nước Tấn biết đánh đàn và Tử Kỳ, một gă tiều phu nước Sở biết thưởng thức tiếng đàn rồi trở thành đôi bạn tri âm. Khi Tử Kỳ mất, Bá Nha đập bể đàn v́ cho rằng 'Tử Kỳ đă mất, th́ Bá Nha này gảy đàn cho ai nghe?'

-         Thứ ba là t́nh yêu đôi lứa, không chỉ lệ thuộc vào sắc tính hoàn toàn mà c̣n liên hệ đến giá trị thẩm mỹ hoặc tinh thần nữa, một đối tượng được coi như đẹp thượng thặng và đáng ham muốn! Những chuyện t́nh nổi tiếng thế giới thường được truyền tụng xét ra 'rằng hay th́ thật là hay, nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào' bởi v́ thiếu chiều kích tâm linh đặc biệt của con người Kitô hữu. Cho nên các bạn trẻ cần phải phân biện thật chính xác trước khi mạo hiểm vào t́nh trường, v́ nếu thiếu chiều kích Kitô th́ sẽ khó có thể nhận lănh ơn sủng để 'giữ ḷng chung thủy với nhau ... cho đến trọn đời'. Có người hỏi 'T́nh yêu đôi lứa là ǵ?' và cũng đă có người trả lời là, 'Cùng già bên nhau'. Định nghĩa thật xúc tích tuyệt vời, v́ tuy vỏn vẹn có bốn chữ nhưng câu trả lời có sức mạnh gắn bó hai trái tim và sức sống bền bỉ của hai cuộc đời. Thật vậy, cha ông ta đă chẳng nói, 'Thuận vợ thuận chồng tát Bể Đông cũng cạn' đó sao?

-         Sau chót nhưng không kém quan trọng là T́nh Yêu Thiên Chúa, AGAPÊ, (t́nh yêu một chiều, cho đi mà không cần đáp lại) biểu hiện sự tự nguyện hiến dâng bản thân ḿnh, kể cả sự sống nếu cần, cho người ḿnh yêu mà không đ̣i hỏi một mảy may đáp lại, một t́nh yêu của người chỉ biết có yêu thương dành cho người thiếu thốn yêu thương.

 

Thánh Phanxicô thành Assisi hẳn đă biết rơ điều này nên ngài nói, 'v́ chính khi hiến thân là khi được nhận lănh, chính lúc quên ḿnh là lúc gặp lại bản thân...' Trong đoạn Phúc Âm trên đây Chúa Giêsu dạy các Tông Đồ rằng:  “Các con hăy yêu thương nhau như Thày đă yêu thương các con”.

 

Sách Giáo Lư của Giáo Hội công Giáo số 1766 định nghĩa t́nh yêu như sau: 'Yêu là muốn cho người khác được hưởng sự tốt lành. Tất cả những t́nh cảm khác đều bắt nguồn từ cử chỉ đầu tiên này của con tim hướng về điều thiện. Chỉ có điều thiện mới đáng yêu và mới có thể yêu được.' Chúa Giêsu gọi trái tim con người là nguồn gốc từ đó phát sanh mọi đam mê. (Mc. 7:21). Người xưa nói trong con người có 'thất t́nh' : Hỷ, Nộ, Ái, Ố, Ai, Lạc, Dục. Cũng sách Giáo Lư Công Giáo viết: Tự nó đam mê không tốt mà cũng không xấu. Nhưng đam mê có thể trở thành tội lỗi nếu t́nh yêu hướng về tội lỗi, hoặc có thể tốt lành nếu t́nh yêu hướng về sự tốt  lành. (CCC 1767)

 

Chúa là T́nh Yêu nên T́nh Yêu Thiên Chúa là tối thượng. Nhân đức ấy soi chiếu và khơi động mọi hành vi của người Kitô hữu. “Các con hăy yêu thương nhau như Thày đă yêu thương các con”. Câu này tôi nghe đă nhiều lần, đọc nhiều lần, nhưng lần nào cũng vậy, đọc xong rồi tôi chả thấy một điều ǵ khác lạ trong tôi. Lời Thiên Chúa là Lời Hằng Sống, nếu tôi không thấy biến chuyển trong tôi có nghĩa là linh hồn tôi không bao giờ nếm Lời Hằng Sống, không có sự sống và chỉ c̣n chờ 'chết' mà thôi. Nhưng linh hồn tôi không thể chết được nên tôi tự buộc ḿnh phải dừng lại để đào sâu tư duy và bỗng thấy run sợ vô cùng. Tôi h́nh dung mỗi một tội là một ung nhọt hôi thối, và toàn thân tôi là một một mùi xú uế vĩ đại, không c̣n một mảnh da thịt nào lành lặn. Làm sao tôi dám lại gần với T́nh Chúa thương tôi, v́ T́nh Chúa tinh tuyền, vĩ đại, bất ngờ quá, không lường được. Thật khác với khôn ngoan loài người 'bánh ú đi, bánh qui lại' chỉ thấy có lợi chứ không thấy t́nh.

Bài học thứ nhất của T́nh Yêu trọn hảo là Cho Đi chứ không Nhận Lănh.

 

Một lần tôi tưởng tượng như ḿnh đang ngồi cùng các môn đệ Chúa trong pḥng tiệc ly, phân vân không hiểu Chúa định làm ǵ, th́ bỗng Ngài đă qùy ngay dưới chân tôi ôn tồn nói, 'con hăy đưa chân cho Thày rửa'. Tôi hoảng sợ, và mắc cỡ. Mắc cỡ v́ chân tôi dơ dáy cát bụi đă đành nhưng nó c̣n hôi tanh hơn bàn chân lở loét của một người mắc bệnh cùi lâu năm, v́ đó là những bàn chân tội lỗi. Hoảng sợ v́ cũng như Giuđa, tôi đă tính đổi Chúa nhiều lần để kiếm chút danh lợi. Chúa biết lắm chứ, vậy mà Chúa vẫn rửa chân dơ dáy của tôi, lại c̣n lấy khăn lau khô cho tôi nữa. Tôi c̣n bàng hoàng th́ Chúa đă dịu dàng giải nghĩa: 'Con gọi Ta là Chúa và là Thày th́ rất đúng, v́ quả Ta là như thế. Vậy nếu Ta là Thày và là Chúa mà c̣n rửa chân cho con, th́ con cũng phải rửa chân cho anh em con vậy'. Lúc đó đầu óc u tối của tôi mới mở ra, tính ngông cuồng của tôi rơi xuống. Trước khi Chúa chịu một cái chết kinh thiên động địa để cứu vớt loài người trong đó có tôi, Chúa đă bằng ḷng chịu một cái chết khác không kém phần khổ nhục là rửa đôi chân dơ dáy của tôi. Rửa xong rồi, Chúa không khôi hài dặn tôi lần sau nên chịu khó rửa chân thường hơn một chút, trái lại Chúa c̣n nhẫn nại dạy tôi rằng nếu muốn đáp lại mối T́nh Chúa th́ tôi phải bắt chước Ngài mà đi rửa chân cho người khác! Giọng nói Chúa buồn, đôi mắt Chúa hiền từ đầy ḷng thương xót. Chúa biết tôi sẽ nhiều lần phản bội Ngài sau này nhưng Chúa đă quyết tâm tha tội cho tôi, cầu nguyện cho tôi, như Chúa đă cầu nguyện và tha thứ cho Phêrô vậy.

Bài học thứ hai về t́nh Yêu là phục vụ và tha thứ, quảng đại chứ không chấp nhất.

Chúa phục vụ tôi đâu phải v́ đôi mắt xanh của tôi, nhưng v́ Chúa thương tôi. Hồi c̣n ở VN, tôi có một cô nữ sinh rất đẹp, thông minh và học giỏi. Lần nào gặp cô cũng thấy cô rất vui vẻ, dễ thương. Nhưng một lần nọ cô ta hết sức giận dữ, vẻ mặt khi ấy không c̣n dễ thương mà có một nét đanh thép đáng sợ. Hỏi ra mới biết người yêu của nàng đă không c̣n săn sóc nàng như trươc kia nữa. Th́ ra nàng yêu v́ được phục vụ chứ thâm tâm nàng không hề có ư phục vụ ai cả. Tôi cũng chả hơn ǵ cô. Trước kia tôi vẫn cho câu châm ngôn 'Khôn ăn người, dại người ăn' là đúng, đâu ngờ rằng Chúa dạy 'Ai muốn kiện con để lấy áo trong th́ hăy để cho y lấy luôn cả áo ngoài nữa, ai bắt con phải vác gánh nặng của họ một dặm đường th́ con hăy vác thêm cho y một dăm nữa'! (Mt. 5:40-41) Thà bị người phụ chứ đừng phụ người. Thánh Phaolô nói, 'Anh em chớ mắc nợ ai điều ǵ ngoài ra t́nh thương mến'. (Rm. 13:8)

 

Một lần khác tôi lại tưởng tượng ḿnh như đang ngồi trong pḥng tiệc ly tối tăm một chiều Chủ Nhật. Thánh Phêrô ôm đầu trong hai tay ủ rũ ngồi trong một góc pḥng, mếu máo như muốn khóc. Thánh Gioan đặt tay trên vai người bạn già như muốn an ủi. Có người vén nhẹ màn che cửa sổ lo lắng nh́n ra ngoài xem người Do Thái có đến vây bắt họ không. Thỉnh thoảng c̣n nghe thấy tiếng thở dài năo nuột của ai đó. Cảnh tượng của một toán cầu thủ SuperBowl bại trận cũng không thiểu năo bằng nhóm tông đồ Chúa hôm đó trên pḥng tiệc ly cửa đóng then cài kỹ lưỡng. Bỗng Chúa hiện đến với các ngài. 'B́nh an cho các con'. Thấy bộ mặt vừa ngạc nhiên vừa sợ hăi của môn đệ, Chúa không trách móc, không chế diễu, không nổi giận. Chúa ôn tồn nhắc lại, 'B́nh an cho các con' và giải thích Ngài là người bằng xương bằng thịt chứ không phải là ma quái ǵ, và c̣n chứng minh thêm nữa bằng cách ăn cá và mật ong trước mặt họ để họ khỏi sợ hăi. Đối với Tôma hoài nghi cũng vậy, Chúa không trách móc, mà vẫn kiên nhẫn mời Tôma xem xét các dấu đanh chân tay và cạnh sườn Ngài. T́nh yêu Chúa bao dung như vậy thử hỏi c̣n có ǵ hơn thế nữa không? Chúa chỉ tỏ vẻ buồn khi nói với Tôma: 'Con tin v́ con thấy Thày, phúc cho ai không thấy mà tin!'

Bài học thứ ba của T́nh Yêu Thiên Chúa là an ủi, hướng dẫn, giáo dục.

 

Ra khỏi giấc mơ tôi thấy ḿnh đang ngồi đây, ở đầu thế kỷ 21 này, tính sổ t́nh yêu của tôi đối với Thiên Chúa. Lời Chúa c̣n văng vẳng bên tai. Nếu con muốn yêu Thày th́ hăy giữ các giới răn của Thày, mà giới răn quan trọng hàng đầu Thày để lại cho các con trưóc khi về với Chúa Cha là các con hăy yêu thương nhau như Thày đă yêu thương các con. Thánh Phaolô được Đức Chúa Thánh Thần mạc khải đă nh́n thấy 15 yếu tố trong t́nh yêu Thiên Chúa: “... Người có đức ái th́ (1) nhẫn nại (2) nhân từ (3) không ghen tị (4) không khoe khoang (5) không kiêu kỳ (6) không tham lam (7) không t́m tư lợi (8) không giận dữ (9) không mưu mô gian ác (10) không vui khi thấy bất công (11) vui mừng khi thấy sự thật (12) tha thứ mọi sự (13) tin tưởng mọi sự (14) hy vọng mọi sự (15) chịu đựng mọi sự.” (1Cor. 13:4)

Bài học thứ tư của T́nh Yêu Thiên Chúa là phải yêu thương như Thày đă yêu thương.

 

Tự nhiên tôi thấy tôi kính mến Chúa quá đi! Nhưng đến khi phải yêu người, kể cả kẻ thù, th́ tôi nhớ tới anh kia đă hành hạ tôi đủ điều, chị kia khinh rẻ tôi nghèo hèn kém cỏi, tôi thấy yêu họ khó thay... Mà Chúa lại dạy tôi rằng nếu không yêu người làm sao nói được yêu Chúa, v́ điều kiện yêu Chúa là yêu người! Tôi đă tưởng lầm rằng đi nhà thờ, xem lễ, rước lễ, và thỉnh thoảng xưng tội là yêu Chúa, và như vậy đủ rồi, c̣n 'business là business, tôi bóp cổ anh được bao nhiêu là tốt bấy nhiêu! Đời mà!' Thánh Gioan nói rằng ai nói ḿnh yêu Chúa mà không yêu người th́ kẻ đó nói láo! (1 Jn 4:20). Tiếng Mỹ dùng chữ 'neighbor', người kế cận, nghe nó gần gũi hơn là chữ 'người khác' hay chữ 'tha nhân' của VN. Người kế cận th́ phải kể ngay từ trong gia đ́nh mà đi mới đúng. Vợ chồng, con cái, anh chị em là những người kế cận đầu tiên trong xă hội. Đó cũng là nơi xuất phát t́nh yêu đầu tiên Chúa đặt trong ḷng con người. Than ôi, té ra tôi làm ra vẻ yêu Chúa chứ thực sự tôi có bao giờ yêu Chúa đâu v́ tôi vẫn chưa thực ḷng yêu người kế cận, nói ǵ đến người ngoài! Đứng núi bên này, tôi cứ tưởng núi bên kia cỏ xanh hơn, đến khi làm hết sức ḿnh để tới núi bên kia th́ cỏ cũng chỉ có vậy mà thôi! Ai cũng có ưu khuyết điểm. Vun trồng ưu điểm th́ nó sẽ lớn lên và có sức bóp nghẹt khuyết điểm cũng như cỏ dại phải lùi bước trước sự chăm sóc cho cây kiểng lớn lên!

Bài học thứ năm của T́nh Yêu Thiên Chúa là tôi phải yêu người kế cận, kể cả kẻ thù, như yêu chính ḿnh tôi.

 

Lạy Chúa, làm sao con yêu được kẻ thù? Không lẽ con phải chạy ra ôm hôn họ ư? Làm vậy có thể họ cho con có ư đồ này nọ rồi căm thù con hơn nữa th́ sao? Không, Chúa nói, Cha không bắt con phải ôm hôn họ, nhưng điều con có thể làm là thực tâm cầu nguyện cho họ như Cha đă cầu nguyện cho con và đừng t́m cách báo thù. Như vậy là con làm vui ḷng Cha rồi. Tất cả mọi người cả tốt lẫn xấu đều là con của Cha, Cha hy sinh mạng sống v́ tất cả mọi người không phải chỉ cho riêng con đâu. Kẻ xấu mà hoán cải th́ sẽ được sống, kẻ tốt mà làm điều xấu th́ sẽ bị lên án. Đó là Công Chính của Cha. (Ez. 18:21-24) Nếu kẻ thù của con không hoán cải th́ phán xét là quyền của Cha, chứ không phải việc của con. Phần con, hăy sống trong Công Chính của Cha. Cha không vui ǵ mà muốn cho ai phải chết cả. (Ez. 18:31-32) 

Bài học thứ sáu của T́nh Yêu Thiên Chúa là đừng phán xét, cứ vâng lời và phó thác.

 

Tôi đâu biết rằng thời gian tôi bị hành hạ trong ngục tù cộng sản là thời gian Chúa ban cho tôi để tôi giặt linh hồn ḿnh. Chị kia khinh rẻ tôi là cơ hội Chúa dùng để trị tánh kiêu ngạo của tôi. Tự biết ḿnh có tội, hèn mọn th́ được Chúa thương yêu tha thứ, tự cho ḿnh là công chính cao trọng th́ lương tâm công chính của ḿnh sẽ lên án ḿnh. Chúa đă lên án  người kiêu căng, đạo đức giả. 'Khốn cho các ngươi, luật sĩ và Pharisiêu, các ngươi không khác ǵ những mồ mả sơn phết trắng toát, đẹp đẽ bên ngoài, nhưng bên trong toàn là những xương cốt xú uế của thây ma!' (Mt. 23: 27) Tôi rất đồng ư với Chúa. Nhưng, xét kỹ lại chính ḿnh, tôi thấy ḿnh cũng chả hơn ǵ họ, có khi c̣n tệ hơn nữa, v́ dù sao họ chỉ nghe đến / hoặc tiếp xúc với Chúa có vài ba năm, c̣n tôi được hấp thụ 2 ngàn năm văn hiến Kitô nhưng mọi hành vi của tôi đều đă hóa thạch, vị h́nh thức chứ chả có một tí hồn nào cả. Tôi đ̣i hỏi thiên hạ phục vụ tôi, hoặc phục vụ nhau, riêng tôi th́ chả chịu phục vụ ai cả v́ thế này thế nọ... Biết bao lần tôi không muốn nhỏ đi để Chúa lớn lên trong tôi, mà c̣n muốn Chúa nhỏ đi để ḿnh tôi lớn lên! Biết bao lần tôi cũng như các ông Pharisiêu khinh chê và lên án 'người tội lỗi' mà không dè rằng tôi là người phải lănh bản án đó đầu tiên nếu áp dụng án lệnh này một cách nghiêm minh!  “Ai yêu mến Thày, th́ hăy giữ lời Thày”. Chúa sẵn sàng bỏ lại 99 con chiên không lạc để đi t́m cho bằng được một con chiên lạc, và khi t́m thấy rồi th́ kêu gọi hàng xóm ăn mừng v́ đă t́m được con chiên lạc. Chúa không mắng nhiếc con chiên thứ 100 lạc đường là 'đáng kiếp cho đồ bất hiếu'! Ngài c̣n t́m đủ mọi cách để chiên đừng sợ. Chúa xuống thế gian để kêu gọi người tội lỗi chứ không kêu gọi người công chính (Mt. 9:13; Lc. 5:31). Thánh Phaolô nói đại khái... dù tôi có năm bẩy bằng tiến sĩ, tiếng Mỹ, tiếng Mễ và các thứ tiếng khác nói như gió, dù tài quản trị của tôi số một, dù đức tin tôi đủ sức dời non lấp biển nhưng thiếu yêu thương, th́ tôi cũng chả khác chi phèng la chũm chọe, miệng th́ kêu to nhưng bụng th́ rỗng tuếch. (Xem 1 Cor. 13:1) Chúa đ̣i hỏi tôi phải trọn lành như Chúa Cha trên trời là Đấng trọn lành. Nhưng Chúa dư biết con không trọn lành, sao Chúa lại đ̣i hỏi một điều kiện bất khả thi như vậy? Nhưng Chúa đáp, 'Ơn sủng của Cha cũng đủ cho con'. (2 Cor. 12:9) Sách CVTĐ chương 17, câu 28 nói, 'Chính ở nơi Người mà chúng ta sống, chúng ta cử động và chúng ta có...' Thánh Phaolô cũng nói, 'Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là Chúa Kitô sống trong tôi' (Gal. 2:20). Nếu Chúa sống trong tôi th́ điều kiện 'trọn lành' có thể thực hiện được, nhưng tôi phải ư thức rằng không phải tôi trọn lành mà chính Chúa trọn lành sống trong tôi.

 

Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu nói, 'Cúi xuống lượm một cây kim v́ ḷng mến Chúa yêu người cũng đủ cứu được một linh hồn', c̣n tôi, tôi đă lượm được bao nhiêu cây kim để tránh cho thiên hạ khỏi dẵm lên? Hay tôi cho đó là việc nhỏ nhen quá không xứng đáng với tài cán của tôi? Tôi có lưu tâm đến việc của anh em tôi không hay tôi đ̣i hỏi anh em tôi phải dành ưu tiên cho việc của tôi, bởi v́ chỉ có tôi mới là quan trọng?

Bài học thứ bẩy của T́nh Yêu Thiên Chúa là tôi phải nhỏ đi để Đức Giêsu lớn lên trong tôi. (Jn. 3:30)

 

Con số 7 là con số kinh thánh toàn bích, nghĩa là những bài học yêu thương không bao giờ cạn. Nhưng điều quan trọng không phải là khám phá những bài học yêu thương của Chúa, mà là sống những bài học đó. Tôi xin phép kết thúc bằng một bài thơ và cũng là một lời cầu nguyện:

 

?

 

XIN CHO CON MỘT TRÁI TIM...

 

Lạy Chúa...    

 

Xin cho con một Trái Tim “sắt đá”,             

Khỏi ngă gục v́ những t́nh cảm riêng tư. . .              

Nhưng xin cho con một Trái Tim nhân từ           

Để yêu thương tất cả mọi người không thiên vị!

 

Xin cho con một Trái Tim biết suy nghĩ       

Khi ngỏ lời an ủi kẻ lo âu. . .        

Xin cho con Trái Tim không biết u sầu        

Để sưởi ấm những tâm hồn cô quạnh.

 

Xin đừng cho con một Trái Tim giá lạnh             

Hững hờ trước đau khổ của tha nhân!         

Nhưng xin cho con một Trái Tim ân cần             

Biết cống hiến cho anh chị em con hết thảy.       

 

Xin cho con một Trái Tim bốc cháy             

Lửa kính yêu một THIÊN CHÚA vô biên! . . .              

Xin cho con một Trái Tim tinh tuyền           

Biết coi thường những đam mê trần thế.                               

Xin cho con một Trái Tim hiến tế         

Sống giữa thế gian mà không thuộc thế gian!     

Xin cho con một Trái Tim dịu dàng,            

Để cảm thông nước mắt người cô thế! . .

 

Xin cho con một Trái Tim mạnh mẽ            

Giữa ba đào biết phân biệt giả với chân. . .         

Xin cho con một Trái Tim khiêm cung         

Muốn phục vụ chứ không trông được phục vụ!    

 

        Lạy Chúa là Đấng tạo thành vũ trụ,            

        Là Sự Thật, là Sự Sống, là Đường Đi !

 

    Xin cho con một trái tim đơn sơ          

Như trẻ nhỏ, chỉ biết trông chờ và phó thác        

    Mọi sự nơi Chúa, với một tấm ḷng chất phác            

Của bông huệ đồng nội, của cá biển, chim trời!                               

Xin cho con một Trái Tim thảnh thơi,          

Không biết ưu phiền, không nuôi hờn giận.         

Yêu Ḥa B́nh, yêu kẻ thù, không oán hận. . .     

Chỉ biết vâng ư Chúa, mọi lúc và mọi nơi.

 

San Jose, California

Louis Lê Xuân Mai


 

[1] Các bản dịch VN đều dịch là Ngôi Lời. Danh từ này chỉ có người Công giáo VN hiểu được mà thôi, v́ Ngôi Lời là gộp cả hai ư (Ngôi Hai Thiên Chúa) và Lời nói (nhập thể). Các bản Tân Ước đều ghi là Logos (Hylạp) Verbum (latin) The Word (Anh) La Parole (Pháp) … nên người viết xin dịch là Ngôn Từ để người ngoài Công Giáo có thể hiểu được chứ không có hậu ư ǵ.