L̉NG NHÂN HẬU VÀ T̀NH YÊU TRUNG TÍN CỦA CHÚA
Tháng Giêng
“Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta... Theo ư muốn và ḷng nhân hậu của Ngài, Chúa đă tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giêsu Kitô, để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời... trong Thánh Tử. Nhờ máu Thánh Tử đổ ra, chúng ta được cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi...” (Ep. 1:3-7)
Tôi khởi sự viết bài suy gẫm này trong những ngày đầu của tháng Giêng, thời gian mà dư âm t́nh yêu Chúa trong mùa Giáng Sinh c̣n rất đậm trong ḷng người, từ già đến trẻ. Ai mà không rung động trước câu Đáp Ca vọng Giáng Sinh, Đến muôn đời tôi ca ngợi T́nh Yêu Chúa (Tv. 89: 2) và câu đầu trong Bài Đọc Một của đêm Giáng Sinh, Những người đi trong bóng tối đă nh́n thấy một ánh sáng chói chan. (Is. 9: 1) Ai là người đi trong bóng tối? Đó là toàn thể loài người. C̣n Ánh Sáng là Đức Giêsu; Ngài đến cho ta nh́n thấy Khuôn Mặt Thật “từ mẫu” của Thiên Chúa, một khuôn mặt đă từng bị bóp méo qua các thời đại, không chỉ riêng bởi những người không biết Chúa, mà kể cả Kitô hữu chúng ta nữa. Một phần của sự bóp méo này có lẽ nằm trong sự “phán xét nghiêm khắc” mà mỗi người sẽ phải đương đầu cho đến khi “trả hết đồng xu cuối cùng”!
Nhưng đâu là sự thật? Sự thật phải đi t́m trong đêm Giáng Sinh, trong hài nhi sơ sanh bọc trong khăn và đặt nằm trong máng cỏ. Thiên Chúa chí đại, chí công, quyền uy vô cùng trở nên nhỏ bé, yếu đuối, nghèo nàn hơn hết mọi tạo vật! Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu, tiến sĩ hội thánh, đă phải thốt lên, Lạy Chúa Giêsu! Ai làm cho Chúa trở nên nhỏ bé yếu đuối như thế này? Rồi thánh nữ tự trả lời, “T́nh Yêu!... Làm sao tôi có thể sợ hăi một Thiên Chúa đă tự nguyện trở nên bé nhỏ như vậy v́ tôi... Tôi yêu mến Ngài v́ Ngài chỉ là Yêu Thương và Từ Bi Nhân Hậu.”
Nếu kiên tŕ đọc / và suy gẫm Tin Mừng th́ sẽ thấy T́nh Yêu Thiên Chúa Vô Biên, thể hiện qua Ngôn Từ của Ngài chói ḷa ánh sáng. Ngài là bạn của những người tội lỗi, là trái tim yêu thương biết rất rơ sự yếu hèn của con người v́ Ngài đă tạo dựng ra họ. Các thánh tông đồ đă từng được Chúa đích thân huấn luyện trong suốt ba năm dài, đă tận mắt chứng kiến những phép lạ cả thể tung ra khắp hang cùng ngơ hẻm (Jn. 21: 25) mà vẫn bỏ chạy khi Chúa bị bắt. Nhưng Chúa không hề quở trách các ngài. “Tinh thần th́ mau lẹ nhưng xác thịt th́ yếu đuối”. (Mt. 26:41). “Simon, Simon, Thầy đă cầu nguyện cho anh... Vậy khi anh hoán cải, hăy tăng cường ḷng tin cho bạn hữu của anh” (Lc. 22:32) Ngài không lên án Maria Mađalêna, “Không ai kết án chị ư? Ta cũng không kết án chị. Hăy về đi, và đừng phạm tội nữa!”. Chúa không khinh miệt người trộm lành, “Ta bảo thật, hôm nay anh sẽ ở trên thiên đàng cùng Ta”. Ngài đă thu nhận “Mathêô thâu thuế” làm môn đệ. Chỉ có Thiên Chúa mới quảng đại và nhân từ đối với người tội lỗi như vậy, v́ tha thứ là đặc tính của Ngài. Khi ta chấp nhận sự hèn kém của ḿnh th́ được tha thứ tức khắc. Thiên Chúa rất thương người khiêm tốn, c̣n kẻ kiêu căng th́ hăy coi chừng! (xem Mt. 23) “Ta muốn ḷng nhân hậu chứ không cần tế phẩm” (Hôsêa 6:6) Trả lời một chị nữ tu bạn lúc nào cũng đ̣i hỏi công lư, Thánh Nữ Têrêxa nói, “Chị muốn công lư ư? Chị sẽ có công lư. Linh hồn sẽ nhận được y hệt điều họ mong muốn!” Câu trả lời táo bạo đó đă làm cho Chúa Giêsu Hài Đồng rất vui ḷng, bởi v́ câu trả lời này chỉ nhắc lại những ǵ thánh Gioan đă nói xưa kia. (1Jn.2:1; 2:20 ; 3:18)
Có lần tôi tự hỏi nếu được sống một đoạn trong thời gian Đức Giêsu rao giảng Tin Mừng th́ tôi muốn chứng kiến cảnh nào trong sinh hoạt của Chúa? Câu hỏi quả là đột ngột, nhưng tôi cũng đột ngột tự trả lời rằng tôi muốn được chứng kiến cảnh Chúa dự tiệc với “dân thu thuế và tội lỗi” (Mt.9:10). Nhưng người Pharisiêu “công chính” đă lên án gắt gao hành động này, v́ đối với họ “làm bạn với phường thu thuế, bọn phản quốc, kẻ nghèo hèn, quân trộm cắp, đĩ điếm... là ... bất khả chấp nhận!” Người “tự trọng” chỉ giao thiệp với người tự trọng. Th́ ra ngày xưa cũng như ngày nay, hễ có tội th́ tự nhiên bị gán cho nhăn hiệu bất hảo, thiếu tư cách bất khả phản hồi, cần gạt sang lề xă hội. Nhưng ai là người vô tội? Hèn chi khuôn mặt từ bi của Đức Giêsu chẳng thu hút được tất cả những người tội lỗi, chẳng gỡ bỏ âu lo cho họ, một thứ âu lo không dễ ǵ xóa bỏ đi được. Người Pharisiêu nổi tiếng là thuộc làu Kinh Thánh mà sao không biết những đoạn như, “Này hăy nghe đây, nhà Gia-cóp, và cả những người hiện đang ở trong nhà Israel nữa, những kẻ mà Ta đă chăm sóc từ lúc mới sanh, mà Ta cưu mang từ lúc các ngươi c̣n nằm trong ḷng mẹ! (Is. 46:3) ... Người mẹ an ủi con ḿnh thế nào th́ Ta cũng sẽ an ủi các ngươi như vậy!” (Is. 66:13) Tôi nghĩ họ biết rất rơ, nhưng trong con mắt họ th́ Thiên Chúa của họ phải là Thiên Chúa chiến thắng, tiêu diệt kẻ thù của Israel, sàng lọc dân riêng ra khỏi nhục nhă ê chề của quân cướp nước! V́ vậy nên họ đă không hiểu được t́nh yêu “từ mẫu” khiến Ngài khóc than cho số phận thành thánh không biết ngày Thiên Chúa viếng thăm. “Giêrusalem! Giêrusalem! Đă bao lần Ta muốn tập họp con cái ngươi lại như gà mẹ ấp ủ gà con dưới cánh!” (Mt. 23:37) Thiên Chúa là T́nh Yêu. Không ai có thể dùng những phương tiện “hữu hạn” để t́m hiểu cái “vô cùng” được. Trong kinh thánh, T́nh Yêu Thiên Chúa đối với con người được diễn tả bằng nhiều cách, từ h́nh ảnh người cha nhân từ, đến chủ chăn đi t́m chiên lạc, từ cảnh hai người t́nh say đắm đi t́m nhau, lạc nhau, rồi lại gặp nhau (Diễm Ca) cho đến việc những sợi tóc trên đầu mỗi người đă được đếm!.. Tất cả những h́nh ảnh này đều đẹp, nhưng không một h́nh ảnh nào lột hết được t́nh Yêu Vô Cùng Thâm Hậu của Chúa đến nỗi đă tự hạ sinh xuống trần gian, chịu sống nghèo hèn, chịu chết nhục nhă chỉ v́ Yêu Thương! Ai có thể vứt bỏ t́nh thương của một người mẹ? Chỉ có trẻ thơ mới cảm thấy bơ vơ khi vắng bóng mẹ, mới an vui trong ṿng tay mẹ. Chỉ có người mẹ mới dám hy sinh mạng sống ḿnh cho con cái. Điều này cũng dễ hiểu. Thiên Chúa đă thiết kế cho sự sống của hài nhi bắt nguồn từ trong thân xác và từ sự sống của mẹ nó. C̣n yêu thương nào lớn hơn yêu thương của người thí mạng sống ḿnh cho người ḿnh yêu? Vậy mà thế gian đă tàn bạo gạt bỏ “cái hy sinh phi lư” này như người “lớn” gạt bỏ một câu chuyện “trẻ con”! Nhưng chính trẻ con mới vào được nước Chúa! Lạ lùng thay, bí hiểm thay tấm ḷng Thiên Chúa. Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó... (Mt. 5:3) Có tâm hồn nghèo khó là nghèo khó về mặt tinh thần, là đơn sơ, ngây thơ, không khôn ngoan như người đời, là dốt nát về trí tuệ, cũng giống như nghèo khó trên phương diện vật chất, là ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, là chim có tổ, chồn có hang, Con Người không có chỗ gối đầu!.. Nghèo nàn tinh thần cũng như chén nước vơi c̣n có thể đổ đầy vào được. Cũng như dạ dầy lép kẹp, c̣n có chỗ chứa thức ăn. Chứ tinh thần và vật chất đầy ắp rồi th́ chỗ đâu mà chứa thêm được cái ǵ nữa, nhất là ḷng thương xót của Chúa?! Một trong những bí mật của Chúa mà các thánh đă khám phá ra là Ngài rất “yếu ḷng” trước kẻ bé mọn. Kẻ đói nghèo Chúa ban của đầy dư, người giàu có lại đuổi về tay trắng! (Lc. 1:53) Ngoài Thiên Chúa ra, chúng ta hy vọng gặt hái được ǵ? Hay là tội nguyên tổ vẫn hằn sâu trong ḷng con người, muốn chối bỏ Thiên Chúa để nghe lời rắn độc. “Khi ăn trái ấy, th́ mắt ngươi sẽ mở ra và ngươi sẽ giống như những thần linh” (STK. 3:5) Những chế độ độc tài, chủ nghĩa phi nhân đă cho thế giới thấy “hạnh phúc đổ nát” của kiêu căng và căm hờn. Con người một khi rũ bỏ T́nh Yêu th́ chỉ c̣n lại những con quái vật.
V́ Yêu Thương nên Đấng Tạo Hóa đă ban cho tạo vật mọi thứ, kể cả tự do, hoàn toàn tự do! Bởi v́ không có tự do th́ làm sao có thể giống h́nh ảnh Thiên Chúa? Nhưng khi rơi vào vũng bùn sa đọa v́ sử dụng tự do sai trái, tạo vật đă chua chát la lên rằng “khi được sanh ra tôi đă lănh nhận một bản án tự do!” (J. P. Sartre) Thật là nực cười! Đ̣i cho được tự do bằng cách phá hủy mọi giá trị tinh thần, kể cả bách hại Giáo Hội và hàng giáo phẩm để bóp nghẹt sự thật mà Chúa đă trao cho các ngài truyền đạt, đến khi không giải quyết được bất cứ điều ǵ theo ư riêng của ḿnh th́ quay ra “đổ tội” cho Chúa! Vậy mà người ta vẫn ca tụng anh này là “xuất chúng!” Cũng như đă đặt cho anh chàng Nietzche danh hiệu người khổng lồ “vĩ đại” mặc dù anh chàng đă mắc chứng bệnh điên v́ không giải quyết được bài toán của chính ḿnh đặt ra.
Quyền uy và khoái lạc một khi không đem lại được hạnh phúc th́ con người “phi t́nh yêu” chỉ c̣n một lối thoát duy nhất: lừa đảo ḿnh, lừa đảo nhau để tự diệt. “Văn hóa sự chết” thời đại ngày nay đủ chứng minh cho điều này. Thần linh của kẻ không tin là của cải mà họ t́m kiếm để lấp đầy lỗ trống trong tâm hồn. Người th́ đi t́m giàu sang để có cảm tưởng an toàn và quyền lực. Nhưng tôn thờ của cải đưa con người đến độc ác và bất công. Từ đó sanh ra tánh keo kiệt. Người th́ tôn thờ sắc tính đến điên loạn. Họ t́m cách lấp đầy lỗ trống bằng cường độ mạnh của một khoái cảm chốc lát. Nỗ lực này thường đưa đến t́nh trạng coi xác thịt người khác như thần linh. Khi tách rời lạc thú khỏi thiên chức của sắc tính -- là kế tục công tŕnh tạo dựng của Thiên Chúa để ṇi giống được trường tồn -- th́ nảy sinh ra những lư thuyết quái đản ngừa thai, phá thai, đồng tính luyến ái, những vụ hăm hiếp trẻ thơ, giết người mà vẫn không đủ thỏa măn! Không có một cái ǵ thuộc phạm vi vất chất, hay khoái lạc xác thịt có thể hoàn toàn thỏa măn được con người. Dùng những phương tiện hữu hạn để mong đạt đến vô cùng không khác nào như “đứa trẻ dùng chén nhỏ múc nước biển đổ vào lỗ hổng để tát cạn đại dương”. “Con người không chỉ sống bằng cơm bánh!” V́ linh hồn bất tử nên con người cần một T́nh Yêu Vô Cùng. Mà T́nh Yêu Vô Cùng chỉ có nơi Thiên Chúa. Ôi, Nhiệm Mầu, T́nh Yêu Chúa nuôi con suốt đời! Thánh Phaolô được Chúa trực tiếp giáo huấn đă nắm được hết bí quyết của t́nh yêu nên ngài đă liệt kê ra được 15 đặc tính của t́nh yêu (1 Co.13: 4-7) và đă kết luận rằng, Hiện nay đức tin, đức cậy, và đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến. (1 Co.13:13) Thật vậy, trên Thiên Quốc chỉ c̣n lại T́nh Yêu v́ khi đó chúng ta đă được diễm phúc nh́n thấy Thánh Nhan Chúa rồi.
Mỗi lần đọc thánh vịnh 23, Chúa Chiên Lành, ḷng tôi nao nao như được nếm trước mùi vị ngọt ngào T́nh Yêu Thiên Chúa. “Chúa là mục tử chăn tôi, tôi chẳng thiếu thốn ǵ. Trong đồng cỏ xanh tươi, Ngài cho tôi nằm nghỉ...” Một cảnh thanh b́nh huyền diệu, một đồng cỏ xanh tươi, một ḍng suối nước mát róc rách chảy nghe như tiếng cười khúc khích của trẻ thơ tung tăng chạy nhảy dưới nắng ấm, một môi trường lư tưởng cho hai tâm hồn yêu nhau, xa vắng cuộc đời ô trọc, một ḿnh Chúa và linh hồn tôi! Gió hiu hiu thổi như ru hồn người vào mộng, không khí êm đềm dưới bầu trời trong xanh, xa xa những con chiên hiền ḥa ăn cỏ không chút sợ hăi v́ chủ chăn sẵn sàng hy sinh bảo vệ chống lại bất cứ một đe dọa nào. Một con chiên mải mê theo đuổi đám cỏ xanh tươi đến nỗi lạc đàn cũng khiến cho chủ chăn cất công t́m kiếm, và khi t́m được rồi th́ mừng rỡ, âu yếm trấn an, vác lên vai để chiên khỏi sợ. Chiên no rồi th́ đưa xuống ḍng suối mát uống nước thỏa thuê, canh thức để chiên an nghỉ. Trong những tháng ngày khó khăn... “dầu có phải đi qua những thung lũng tối tăm, con sợ ǵ nguy khốn, v́ có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm!” Tuyệt diệu! Một chủ chăn, một đàn chiên, linh hồn tôi nằm yên trong ṿng tay âu yếm của Chúa, y hệt người mẹ chăm sóc đứa con sơ sinh!
Sách Diễm Ca gợi ư một sự thật nền tảng cho người Kitô hữu nh́n thấy ư nghĩa cuộc sống, T́nh Yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương th́ đều là con Thiên Chúa, và người ấy biết Chúa. Ai không yêu thương là người không biết Chúa, v́ Chúa là T́nh Yêu... (1 Jn. 4:7-8) Mối t́nh đôi lứa trong Diễm Ca thắm thiết như thế nào th́ t́nh Chúa yêu mỗi người chúng ta c̣n hơn thế nữa, hơn bội phần. Hoa huệ giữa đám thảo nhi thế nào th́ người yêu của tôi trong đám thiếu nữ cũng vậy. (D.ca 2:2) H́nh ảnh cô thiếu nữ đi t́m người yêu trong Diễm Ca mở rộng tầm nh́n cho ta thấy lời kêu gọi và lời hứa của Chúa trong Tân ước, Hăy xin th́ sẽ được, hăy t́m th́ sẽ thấy, hăy gơ sẽ được mở cho. (Mt. 7:7) Các vị huyền nhiệm Kitô trong các thế kỷ sau này đă thấy trong Diễm Ca một nguồn suối suy gẫm vô song về sự kết hợp giữa linh hồn với Thiên Chúa trong T́nh Yêu thần thiêng. Thánh Augustinô đă thốt lên, Lạy Chúa, Chúa đă dựng con ra cho Chúa, và linh hồn con sẽ luôn khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa.
Với Đức Kitô, ta có b́nh an, ngay cả trong lúc chiến tranh. Không có Đức Kitô, th́ ta luôn luôn sống trong cảnh chiến tranh ngay cả trong thời b́nh. Không có Đức Kitô, người giàu mấy cũng thành nghèo. Có Đức Kitô, người nghèo hóa ra giàu. Có Đức Kitô th́ đau khổ báo trước dịu ngọt được Chúa an ủi. Không có Đức Kitô, an thích chứa đầy vị đắng cay. (xem Mt. 5) Văn hóa của ma túy, dâm bôn, của sắc tính cuồng loạn, của bạo động và thách đố, của tham tàn và lợi lộc vật chất, của quyền lực thô bạo đă kết tinh thành công lư “phi Kitô” mà hậu quả là kỹ nghệ “giết trẻ” thịnh vượng hơn bao giờ hết; những em bé không cha, không mẹ, rơi vào băng đảng như thiêu thân dưới ánh đèn điện; những thân xác khô héo của người homeless vô gia cư nằm run rẩy cạnh những nhà lầu sang trọng; vũ khí hạch tâm, sinh-hóa học, vi trùng nhiều đến độ có thể phá hủy trái đất hàng chục lần. Khoa học di thể khiến con người tự phong lên hàng thần thánh, đang tính chuyện “cloning” sao chép cả con người “vô tâm”! Để làm ǵ? Có Đức Kitô, người dốt trở nên khôn ngoan. Không có Đức Kitô, trí thức biến thành tối tăm, man rợ. Cùng với Đức Kitô, cuộc sống là pḥng đợi vào Thiên đàng. Không có Đức Kitô, cuộc sống chỉ là / và sẽ đưa đến hỏa ngục!
Đă có lần, lâu lắm rồi, tôi cũng mải mê đi t́m công bằng xă hội và yêu thương “phi Kitô”. Nhưng sau này khi biết đọc Kinh Thánh th́ điều đầu tiên khiến cho trái tim tôi đau thắt lại: đó là công lư Thiên Chúa khác / nếu không muốn nói là trái ngược với bất cứ một chế độ nào trên trái đất. Thật vậy, đối với con người th́ “mắt đổi mắt, răng đền răng”, nhưng đối với Thiên Chúa th́ khi loài người phạm tội, Ngôi Hai Thiên Chúa đă đền tội thay cho loài người! Nghe câu chuyện “phong thần” này, có nhà “thông thái” (lại thông thái!) phá lên cười mỉa mai phê rằng “chỉ có điên rồ mới làm như vậy”, và “t́nh yêu cứu độ kiểu đó không có tôi”. Xưa nay, những khối óc “vĩ đại” loại này vẫn có những lỗ hổng mà chính các vị không thấy v́ nó ở sau lưng các vị, nhưng một em bé ngây thơ lại nh́n thấy rất rơ.
Trong một lớp học, tại một trường nọ, trong một nước nọ, một cậu học sinh lớp 9 con nhà “phản động”, một hôm hỏi “nhà bác học nửa mùa” duy vật kia đang huênh hoang phủ nhận Thiên Chúa rằng, “nếu không có một lực siêu h́nh quyền năng tối thượng bên ngoài và bên trên vật chất th́ xin thầy cắt nghĩa cho em rơ làm sao có được sự sắp xếp ngăn nắp của các tế bào trong tử cung của một người mẹ để tạo ra những bộ phận khác nhau trong cơ thể thai nhi một cách tuyệt vời như vậy”. Nhà “bác học” đă vô cùng giận dữ, rồi ấp úng không có câu trả lời. V́ ông không biết câu, “tạng phủ con chính Ngài đă cấu tạo, dệt tấm h́nh hài trong dạ mẫu thân con. Con sẽ đời đời tạ ơn Chúa, là Đấng dệt ra con trong kinh hoàng tuyệt diệu”. (Tv. 139:13-14) Vâng, “...yêu thương qua ngả Thập Giá là một sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, th́ đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa...” (1 Co. 1:18)
Thánh Francis de Sales nói, “Không có hành động nào yêu thương và dịu dàng hơn việc Đấng Cứu Chuộc Tự hủy và Tự hạ để trở nên thức ăn thấm nhuần linh hồn chúng ta và để kết hiệp Bản Thân Ngài với tâm hồn những kẻ tin Ngài”. Đây là tột đỉnh của T́nh Yêu, Thiên Chúa hiến tế Thiên Chúa cho Thiên Chúa v́ tội lỗi loài người, không c̣n t́nh yêu nào lớn hơn được nữa. Hạnh phúc của chúng ta là sám hối để chấp nhận T́nh Yêu Lân Tuất này. Nhưng muốn hoán cải, th́ linh hồn phải nh́n thấy cái sa đọa của chính ḿnh trước đă. Mỗi bước trên con đường tự t́m hiểu là một bước tiến về Thiên Chúa. Khi đó ḿnh mới yên tâm để hoàn toàn phó thác trong ṿng tay Thiên Chúa. Là những kẻ có tội, chúng ta không thể không cần đến Đức Giêsu; cho nên lúc nào chúng ta cũng ước ao đón nhận thương xót của Ngài. Nhưng không phải ai cũng chấp nhận T́nh Yêu này. Nhận hay không là tùy ư mỗi người. Tuy nhiên, không nên lầm lẫn ḷng thương xót của Chúa với những ân sủng chúng ta nhận được từ ḷng thương xót ấy. Nói cách khác, chúng ta phải yêu qúy ḷng thương xót của Chúa, bởi v́ đây là bộ mặt Thật của Đức Giêsu, là sự thể hiện T́nh Ngài Yêu Thương chúng ta, nhưng đừng nghĩ rằng chúng ta được phép thờ ơ đối với Ngài. Tóm lại, đừng tưởng rằng ḿnh có quyền hưởng thụ hết mọi hồng ân Thương Xót Chúa ban mà không cần phải yêu mến Chúa đâu. Đây không phải là một đe dọa mà là luật yêu thương Chúa đă thiết kế trong ḷng con người ngay từ ḷng mẹ, và đă được nhắc lại trong kinh Lạy Cha … “và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha cho kẻ có nợ chúng con…” Nghĩa là nhận được T́nh Yêu th́ phải đáp trả bằng T́nh Yêu nếu không muốn mất T́nh Yêu đời đời...
THAY LỜI KẾT
Trên đây, tôi đă ước mơ được chứng kiến cảnh Chúa ngồi chung bàn tiệc với người tội lỗi, kẻ hèn hạ, để biết cách Chúa đối xử với họ, để được nghe Chúa nói và xem phản ứng của họ. Một mặt họ vô cùng hănh diện được Chúa viếng thăm, mặt khác họ cũng ít nhiều ư thức thân phận hèn mọn, tội lỗi của ḿnh. Mọi con mắt đều đổ dồn vào Chúa, mọi lỗ tai đều hướng về Ngài mong được nghe những lời hằng sống. Sứ mạng của Chúa là cứu vớt những con chiên lạc nhà Israel, nhưng nếu giảng một bài về yêu thương có tính sư phạm trong khung cảnh đó có lẽ không hợp thời. Chúa không trách móc cuộc đời tội lỗi của họ, “v́ họ không biết việc họ làm”. Ngài chỉ kể cho họ một câu chuyện tầm thường của giới b́nh dân mà Ngài chứng kiến hàng ngày trong khi đi rao giảng Tin Mừng nước trời, rồi để cho hạt giống t́nh yêu tự nó bắt rễ và lớn lên khi có điều kiện thích hợp như nước thấm vào ḷng đất để họ được cải tạo. Điều kiện thích hợp là sự sám hối, ăn năn. Không sám hối, hạt giống t́nh yêu không bao giờ nảy mầm lên được. Chúa nói,
“Hôm nọ khi trên đường về nhà của Phêrô, Tôi thấy một chú bé đang ngồi chơi bên bờ ruộng. Đất cát dính be bét từ đầu đến chân nó. Tôi mỉm cười nh́n nó, và hỏi ‘Cháu có thích tṛ chơi này không? Coi bộ cháu thích lắm th́ phải!’ Đứa bé ngước đôi mắt to nâu màu hạt dẻ nh́n Tôi đáp, ‘Có, cháu thích lắm! Cháu đang làm một nông trại.’ Đưa ngón tay nhỏ xíu chỉ vào mấy đống đất nó nói, ‘Đây là nhà ở của cháu’. Rồi chỉ vào mấy ḥn sỏi bóng láng em bé tiếp, ‘C̣n đây là mấy con cừu’. Tôi qùy xuống bên bé và hỏi, ‘Khi lớn lên, cháu có muốn làm một nhà nông không?’ Nó nói, ‘Có chứ, v́ như thế cháu sẽ không bao giờ c̣n đói nữa!’, coi như đó là chuyện dĩ nhiên đối với mọi người. Phêrô liền hỏi, ‘Bây giờ cháu có đói không?’ Đứa bé đáp, ‘Có, cháu đói lắm! Sáng nay cháu ăn có một tí tẹo thôi, và mẹ cháu nói ngày mai mẹ con cháu mới được ăn nữa. Nhưng cháu có ăn thêm một ít cỏ đây này’, vừa nói nó vừa giơ cao một nắm cỏ để bên cạnh. Phêrô ân cần hỏi tiếp, ‘Cháu có thường bị đói như thế này không?’ Vừa tiếp tục tṛ chơi làm nông trại, nó vừa đáp, ‘Cháu thường bị đói luôn!’ Một giọt lệ lăn xuống g̣ má, Phêrô hỏi, ‘Bố cháu đâu?’ – ‘Mẹ nói bố cháu bị giết trong một tai nạn, nhưng mấy thằng bạn cháu nói bố cháu bị người La Mă đóng đanh. Đóng đanh là ǵ hả bác?’, nó hỏi một cách ngây thơ. Tôi xoa mặt chú bé và nói, ‘Ồ, cháu phải hỏi chuyện này với mẹ cháu.’ Quay qua Phêrô, tôi hỏi, ‘Phêrô à, ḿnh có cái ǵ để cho mẹ con cháu bé này không nhỉ?’ Phêrô nói, hai hàng nước mắt chảy xuống ṛng ṛng, ‘Lạy Ngài, có’. Liền đó, Phêrô lấy túi bạc nhỏ đeo bên hông và trao cho đứa bé. ‘Này, con cầm lấy đưa cho mẹ con!’ Đứa bé đưa tay cầm lấy túi tiền rồi hỏi Tôi, ‘Tại sao bác ấy khóc vậy? Bác ấy buồn hả?’ Tôi nói, ‘Ừ! Bác ấy buồn v́ ḷng bác đầy t́nh thương.’ Đứa bé vói tay ôm lấy Phêrô và nói, ‘Bác đừng khóc! Cháu thường khóc nhiều, nhưng cháu vẫn cảm thầy buồn. Bác đừng khóc!’ Rồi nó hôn Phêrô và nói, ‘Cháu sẽ chơi với bác. Đừng khóc nữa!’ Câu nói này càng làm cho Phêrô khóc dữ, và rồi Tôi cũng bắt đầu khóc v́ t́nh yêu và ḷng ngây thơ trong tâm hồn đứa bé mới chừng nấy tuổi mà đă phải đau khổ như vậy, đau khổ mà vẫn không đánh mất t́nh thương! Tôi nh́n thấy cha đứa trẻ đứng trước mặt Tôi. Trước kia, anh ta là một người tốt, nhưng không thể nuôi vợ con được v́ anh mắc bệnh, nên không kiếm được việc làm. Một hôm quá thất vọng, anh ta ăn cắp tiền và thanh gươm của một người lính La mă với ư định đem bán lấy tiền mua gạo cho vợ con anh. Nhưng anh bị bọn lính bắt được, rồi bị đánh. Họ nói anh ta định ăn cắp gươm để giết họ, nhưng điều đó không đúng. Viên sĩ quan chỉ huy đă ra lệnh đóng đanh anh ta. Vậy là anh ta bị đóng đanh. Ḷng Tôi tan nát khi thấy một người tốt bụng bị lôi cuốn vào ṿng tội lỗi, chỉ v́ hàng xóm không giúp đỡ anh ta lúc anh ta cần được giúp đỡ. Nếu hàng xóm và bạn bè thương xót người bệnh tật này và ra tay giúp đỡ th́ anh ta đă không bị xô đẩy vào đường tuyệt vọng đến nỗi phải đi ăn cắp. Tôi cũng thấy rằng tội lỗi đem lại nhiều đau khổ hơn, chứ không hề giảm thiểu đau khổ. Người đàn ông kia chịu đau đớn trên khổ giá, vợ con anh đau khổ v́ mất chồng, mất cha, c̣n linh hồn những người hàng xóm ngày càng bị thương tổn v́ ngay bây giờ họ cũng không làm ǵ để giúp đỡ gia đ́nh này. Gánh tội đè lên đầu họ nặng làm sao. Vừa lúc đó mẹ chú bé tới nơi, nh́n thấy Phêrô và Tôi đang khóc, c̣n em bé th́ ôm chúng tôi và nói, ‘Các bác đừng khóc. Thôi mà, đừng khóc nữa’. Chị liền hỏi, ‘Cái ǵ thế này? Các ông làm ǵ con tôi đó?’ rồi chị giận dữ ẵm con lên. Phêrô ngước mắt nh́n chị và nói, ‘Chúng tôi nói chuyện với nhau, và con chị đang kể cho chúng tôi nghe một quăng đời của nó.’ – ‘Ồ!’ chị nói, rồi xấu hổ cúi mặt xuống. Tôi đứng dậy, lấy tay nâng mặt chị lên, và nói, ‘Chị không có ǵ phải xấu hổ. Con chị dễ thương lắm, và Tôi thấy chị cũng có ḷng thương người.’ Chị lúng túng nói, ‘Thôi, tôi phải đi đây.’ Thằng bé khoe mẹ túi tiền và nói, ‘Mẹ ơi, coi các bác này cho mẹ cái này này’. Chị không tin hỏi, ‘Con không ăn cắp đấy chứ?’ Phêrô nói, ‘Không! Chúng tôi cho cháu để nó đem về cho chị đó.’ – ‘Nhưng tại sao?’ chị hỏi. – ‘Để chị có thể về với gia đ́nh chị ở Xê-da-rê-a’, Tôi mỉm cười đáp. – ‘Làm sao Ông biết gia đ́nh tôi ở đó?’ chị ngạc nhiên hỏi lại. Tôi khuyên chị, ‘Tôi biết chị có một người chú ở đó. Ông ấy sẽ săn sóc mẹ con chị nếu chị về với ông ta.’ Chị thốt lên vô cùng ngạc nhiên,’Làm sao...làm sao Ông biết được chuyện này? Không ai trong thành phố này biết ǵ về tôi cả mà!’ – ‘Tôi biết, cũng như Tôi c̣n biết rằng hàng ngày chị cầu xin Chúa tha tội cho chồng chị. Chị c̣n xin Ngài giúp đỡ cho chị chút ít trong đời sống của chị nữa. Đó, Chúa đă nghe lời chị và đă đáp lại.’ – ‘Lạy Ngài’, chị kêu lên và qùy xuống. Đứa con chị liền chỉ vào Phêrô và nói, ‘Bác này cũng gọi bác này là Ngài.’ Người thiếu phụ bắt đầu khóc và không dám nh́n Tôi. Chị tiếp tục nh́n xuống đất và nói, ‘Lạy Ngài.’ Tôi cúi xuống, nâng chị dậy, và nói, ‘Lời cầu xin của chị đă được chấp nhận. Đừng bao giờ quên cảm tạ Chúa v́ những ǵ Ngài đă làm cho chị.’ Chị ngước mắt nh́n Tôi, và nhận biết Tôi. Rồi chị lại qùy xuống, nhưng lần này chị hôn chân Tôi và nói, ‘Lạy Ngài, cảm tạ Ngài. Tôi không xứng đáng. Ôi, xin cảm tạ Ngài’. Tôi nâng chị dậy một lần nữa và nói, ‘Tôi cất hết nỗi buồn phiền trong ḷng cho chị rồi, và Tôi thay niềm vui cho chị vào đó. Tôi cho hài nhi hiện đang nằm trong ḷng chị niềm vui sự sống.’ – ‘Lạy Ngài, một đứa con, một đứa con!’ chị reo lên sung sướng. Chú bé mỉm cười nh́n Tôi và nói, ‘Cháu thích Bác không khóc nữa!’ Tôi đáp, ‘Bác cũng vậy, cháu ạ. Bác cũng vậy.’ Khi trở về nhà, Phêrô nói, ‘Thằng bé dễ thương quá. Con vui mừng khi Thầy giúp mẹ con nó.’ Tôi cắt nghĩa cho Phêrô rằng, ‘Nếu anh cầu xin Chúa bằng kinh nguyện và t́nh thương, nếu anh kiên tŕ và tin cậy rằng Chúa sẽ đáp lại, nếu điều này có lợi cho anh, th́ Chúa sẽ nhậm lời.’ *
Tôi tưởng tượng khi Chúa ngưng nói, cả căn nhà lớn đông khách yên lặng như tờ. Không ai cầm được nước mắt. Các chị cũng như tất cả những người thâu thuế có mặt hôm đó đều qùy xuống, nước mắt dàn dụa. Họ đă được ơn Chúa Viếng Thăm. Mathêô, Da-kê-ô khóc nhiều hơn ai hết. Sau một hồi lâu, đôi mắt đẫm lệ, Da-kê-ô quả quyết đứng lên giọng đầy sám hối, nói,
- “Lạy Ngài, tôi xin dành phân nửa tài sản của tôi để cho người nghèo, và nếu tôi đă cưỡng đoạt của ai cái ǵ, th́ tôi xin đền gấp bốn.” Tất cả cử tọa vui mừng tán thưởng. Chúa liền tươi cười nói, “Hôm nay, ơn cứu độ đă đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham. V́ Con Người đến để t́m và cứu những ǵ đă mất”. (Lc. 19:8-9) Người ta lại hoan hô tán thưởng. Những nụ cười sám hối pha lẫn nước mắt t́nh thương nở đẹp trên mặt mọi người. Rồi từng người một, họ đều tuyên xưng ḷng từ bi nhân hậu của Chúa, long trọng hứa với Chúa và với chính ḿnh rằng từ nay sẽ xin hết sức cố gắng chăm bón cây T́nh Yêu như ư Chúa muốn.
Bữa tiệc linh đ́nh hôm đó mất hẳn tính cách trần tục, mà đă biến thành bữa tiệc T́nh Yêu. Lạy Chúa, xin thanh tẩy linh hồn con như Chúa đă thanh tẩy linh hồn những người thu thuế đêm xưa!
Tháng Giêng, 2011
Louis Lê Xuân Mai
* Câu chuyện trên đây trích trong sách Through The Eyes Of Jesus (Qua cái nh́n của Đức Giêsu) tập II của Alan Ames, một người vô tín ngưỡng đă được Chúa viếng thăm. Hiện nay Ames đi khắp thế giới để làm chứng cho Chúa.