KITÔ HỮU ĐÍCH THỰC

HAY KITÔ HỮU XU THỜI

 

Trong tài liệu THE GOSPEL OF HOPE [1] của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II có đoạn viết như sau: “Chúng ta đang chứng kiến một cuộc xung đột to lớn và thảm khốc giữa văn hóa sự chết và văn hóa sự sống. Bản thân chúng ta bị mắc kẹt trong trận chiến này. Tất cả chúng ta đều dính líu vào đó, tất cả chúng ta đều góp phần vào đó mà không sao tránh khỏi trách nhiệm buộc chúng ta phải chọn đứng về phía sự sống vô điều kiện”.[2]

 

T́nh trạng rối ren thế giới ngày nay giống hệt như trong chuyện thần thoại Hy Lạp thời xưa khi nàng Pandora mở “cái hũ định mệnh” khiến cho tất cả sự dữ thoát hết ra ngoài gây cơ man thảm họa cho loài người[3]. Thực tế không thể không bi quan: Các nước phát triển hàng đầu thế giới đang t́m cách loại bỏ đạo đức ra khỏi nếp sống xă hội.  Chỉ trong một thế kỳ 20 thôi mà loài người đă phải trải qua bao cuộc “cách mạng”, chiến tranh đủ loại gây ra do bao nhiêu “học thuyết” - hầu hết là phi Thiên Chúa và phi nhân - mong đem lại cho con người một thế giới tốt đẹp hơn và một cuộc sống hạnh phúc hoàn toàn theo quan niệm duy vật sử quan và duy vật biện chứng! Kết quả hạnh phúc đâu chẳng thấy mà chỉ thấy có bất hạnh và đau khổ “giây chuyền” không kềm hăm nổi! Mâu thuẫn phát sinh mâu thuẫn, và khôn ngoan con cái thế gian vốn thiếu yếu tố tâm linh nên chỉ biết giải quyết vấn đề trên cơ sở duy vật bạo lực. Quan niệm chủng tộc siêu đẳng đă đẻ ra chủ nghĩa Người Hùng của ṇi giống aryan Đức quốc mà Hitler là tiêu biểu. Quan niệm lấy thịt đè người đă sanh ra  khẩu hiệu Sức Mạnh Chính Trị Phát Xuất Từ Ṇng Súng của Mao trạch Đông. Kế hoạch “10 năm trồng cây, 100 năm trồng người” của Hồ chí Minh đă sản sinh ra con người dối trá, tàn bạo, chỉ biết lợi nhuận bất chấp sanh mạng con người. Tham vọng nắm “Chánh Quyền Bằng Mọi Giá” đă sản sinh chế độ độc tài vô sản... Tất cả đều sụp đổ hoặc đang thoái hóa chờ ngày sụp đổ v́ vắng bóng t́nh thương, cho nên công lư của những chế độ này chỉ là một sự trả thù trắng trợn không có ǵ là lạ, và đang bị dân chúng nguyền rủa.

 

Khi thế chiến thứ nhất bùng nổ th́ các vũ khí coi như “tối tân và giết người hàng loạt” đă được đôi bên đối nghịch đem ra sử dụng bất chấp nhân đạo kể cả vũ khí hóa học, vi trùng. Tổng kết thiệt hại và tính dă man của vũ khí “mới hồi đó” thiên hạ đă hy vọng rằng công thức “Lấy Độc Trị Độc” này sẽ làm cho con người khiếp đảm không dám nghĩ đến chiến tranh nữa, v́ vậy nên đă khoác cho nó cái tên là Chiến Tranh Chấm Dứt Mọi Chiến Tranh. Nhưng ngờ đâu chỉ mới 20 năm sau một thế chiến thứ hai dă man tàn khốc hơn nhiều lại xảy ra. Nếu liên kết thảm họa này với yếu tố tâm linh e rằng sẽ bị cho đó là chuyện lỗi thời phi “khoa học”, nực cười!

 

Nhưng đến nay th́ mọi người đă rơ chuyện xảy ra với ba trẻ thơ tại làng Fatima, Bồ đào nha, năm 1917. Mặc dầu vậy, những “tâm hồn mạnh” của những người mang danh Kitô kể cả một số hàng giáo phẩm vẫn cho rằng những mặc khải riêng tư không bắt buộc phải tin. Thánh Phaolô đă nói:Anh em đừng dập tắt Thần Khí. Chớ khinh thường ơn nói tiên tri. Hăy cân nhắc mọi sự: điều ǵ tốt th́ giữ; c̣n điều xấu dưới bất cứ h́nh thức nào th́ tránh cho xa” (1 Thes. 5: 19-22) v́ vậy chúng ta đừng vội gạt bỏ “ơn tiên tri”. Mặc khải riêng tư không đưa ra một giáo thuyết nào mới cả nhưng nếu suy gẫm chín chắn th́ sẽ thấy toàn là những lời kêu gọi sám hối, sống đời đạo hạnh hợp với thánh ư Chúa hơn. Như vậy th́ cũng không khác ǵ với các lời cảnh báo của các ngôn sứ thời xưa. Tin hay không là quyền của mọi người, nhưng điều t́ên báo năm xưa ai cũng biết rằng đă được thực hiện.

 

- Đức Mẹ nói: “Các con hăy đọc kinh Mân Côi mỗi ngày và làm nhiều việc hy sinh, hăm ḿnh, cầu nguyện cho ḥa b́nh thế giới. Chiến tranh (thế chiến thứ 1) sắp chấm dứt, nhưng nếu loài người không ăn năn hối cải th́ một chiến tranh khác (thế chiến thứ 2) tàn khốc hơn sẽ xảy ra dưới thời Giáo Hoàng Piô XI [4]. Mẹ sẽ đến yêu cầu Giáo Hoàng thánh hiến nước Nga cho Trái Tim Mẹ. Nếu nghe lời Mẹ th́ nước Nga sẽ trở lại, nếu không th́ nước Nga sẽ gây ra nhiều đau thương tàn phá trên thế giới. Sau cùng th́ Trái Tim Mẹ sẽ thắng!” (Theo lời kể của Chị Lucia mới qua đời năm 2005 - tại Coimbra, Bồ-đào-nha). Tất cả đều đă thành lịch sử, c̣n yếu tố sau cùng là điều chúng ta cầu nguyện và trông chờ.

 

Năm 1990 Liên Xô sụp đổ nhưng chỉ sau khi để lại một gia tài khủng khiếp cho thế giới. Những năm sau này cũng không khá hơn! Các nước trong Liên Bang Nga lần lượt tách rời mẫu quốc đ̣i độc lập và chiến tranh khủng bố lại xảy ra. Tâm lư phản loạn vẫn ngự trị ḷng người. Tất cả tín hữu Công giáo đều nh́n nhận rằng Giáo Hội đang trải qua một cuộc khủng hoảng đức tin đáng sợ nhất là sau tai tiếng sắc tính của những “con sói đội lốt cừu” trong hàng ngũ giáo sĩ.

 

Cách đây hai mươi năm, thống kê của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ cho biết chỉ có từ 30% đến 50% người Công Giáo Mỹ tham dự thánh lễ Chủ Nhật. Theo Cha John Corapi, Hội Ḍng Đức Mẹ Thiên Chúa Ba Ngôi Cưc Thánh (SOLT[5]) cho biết mới đây rằng “ngày nay con số đó chỉ c̣n là 25%! Tỉ số hôn nhân Công Giáo ly dị cũng ngang ngửa với các cặp hôn nhân vô tín ngưỡng, số hôn nhân Công Giáo áp dụng thủ thuật ngừa thai nhân tạo cũng không kém so với giới vô tín ngưỡng!” Giáo phận Boston đă phải đóng cửa nhiều giáo xứ v́ con chiên bỏ đi! Canada ráo riết vận động quốc hội của họ đặt kinh thánh Kitô giáo ra ngoài ṿng pháp luật v́ cho đó là loại sách gây căm thù [6]. Những lối sống thác loạn coi như tự nhiên, được cổ vơ nhân danh tự do và văn minh! Hiệp hội Âu Châu muốn quên quá khứ Kitô của họ để chỉ c̣n là một tổ chức hoàn toàn thế tục. Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gọi hiện tượng này là sự mất trí nhớ. Ta có cảm tưởng như dân Âu châu phung phí gia tài ông cha họ để lại qua lịch sử nên họ cố sức tạo ra một Âu châu mà không đếm xỉa đến tài sản tôn giáo của ḿnh .. rồi đem tháp vào thân cây vẫn nuôi dưỡng họ bằng nhựa sống Kitô.[7] Sự bành trướng của Hồi giáo tại Âu châu là dấu chỉ thời đại rơ nhất của việc Âu châu mất đức tin! Cái xảy nảy cái ung!

Ôn lại không khí sôi sục của thời kỳ lịch sử hậu Công Đồng Vatican II (11 tháng 10, 1962 – 8 tháng 12 1965) có lẽ cũng là điều cần thiết. Một sự thật mà các Giáo sử đều công nhận là bất cứ sau một Công Đồng nào cũng đều có những tâm hồn nổi loạn. Công Đồng Vatican II cũng không ra khỏi “thông lệ” này (người đời tặng cho họ nhăn hiệu là tiến bộ, cách mạng hoặc thức thời) đ̣i hỏi phải cải cách bằng mọi giá, phá bỏ tất cả những “cái cũ lỗi thời” để thay bằng “cái mới hiện đại, tốt đẹp hơn”! Phe mới, phe cũ ẩu đả nhau kịch liệt khiến “Vườn Nho của Chúa tan hoang” đến nỗi chỉ từ 1965 đến 1975 một số lớn Nữ Tu Sĩ California từ bỏ nếp sống tu tŕ để hồi tục.

Nh́n thấy hỏa mù Satan đă lọt vào Giáo Hội nên năm 1968 do Chúa Thánh Thần linh hứng, Đức Phaolô VI đă quyết định công bố sứ điệp Humanae Vitae (Về sự sống con người). Thật ra sứ điệp không có ǵ mới cả mà chỉ nhắc lại giáo huấn cố hữu của Giáo Hội về vấn đề kiểm soát sinh sản cho tín hữu Công Giáo thôi, nhưng sứ điệp đă bị chống đối dữ dội, kể cả trong hàng giáo phẩm - gồm cả các vị giám mục - , giới nữ quyền - trong đó không ít các vị nữ tu! Xưa Chúa Giêsu bị đối xử tại xứ sở của Ngài thế nào th́ Đức Phaolô VI cũng bị đối xử như vậy! V́ sao có sứ điệp này và v́ sao có sự chống đối?

 

Sau bao nhiêu năm thử nghiệm thác loạn của giới tự nhận là cấp tiến, tất cả những ai quan tâm đến sự sống c̣n của văn minh nhân loại đều công nhận là ĐTC Phaolô VI có cái nh́n ngôn sứ!

 

Bốn lănh vực chính yếu mà ĐTC cảnh báo lúc đó đang xảy ra trước mắt chúng ta:

 

1. Bất trung hôn nhân ngày nay dễ dàng và tự nhiên như thay áo, vợ chồng lừa dối nhau là chuyện b́nh thường và các nguyên tắc đạo đức khác cũng dễ gạt sang một bên v́ nhiều lư do. Một số người không nhỏ tại nhiều quốc gia c̣n cho rằng trung thành hôn nhân mới là chuyện bất b́nh thường. Phái nam bỗng dưng “đuợc giải phóng” khỏi trách nhiệm hành vi sắc dục của họ nhờ biện pháp ngừa thai! [8]

 

2. Ngưởi chồng không c̣n kính trọng vợ ḿnh nữa; nữ giới biến thành công cụ thỏa măn sắc tính của nam giới chứ không cón là bạn đời đáng trọng. Giới nữ quyền vẫn tố cáo Giáo Hội là không đếm xiả đến phẩm giá người nữ đă không nh́n thấy chính Sứ Điệp Humanae Vitae xác định nhân cách, bênh vực phụ nữ và loại bỏ vấn đề khai thác phụ nữ từ lâu.

 

3. Chính quyền các nơi đă bắt buộc dân chúng ngừa thai và họ sẽ can thiệp vào một lănh vực hoàn toàn riêng tư và thân mật giữa đôi vợ chồng. Hầu hết ngoại viện của các nước giàu dành cho các nước nghèo nay được gắn liền với vấn đề ngừa thai và kiểm soát sinh sản một cách rất tự nhiên: thuốc ngừa thai được xuất khẩu đại quy mô, phá thai, và các biện pháp ngăn ngừa sanh đẻ được các nước đại phát triển phổ biến rộng răi che dấu dưới những mỹ từ như điều ḥa dân số, kế hoạch hóa gia đ́nh, kiểm soát nạn nhân măn, thăng hoa văn hóa...

 

4. Con người nghĩ rằng họ có toàn quyền tự do muốn làm ǵ cũng được với thể xác hoặc những hoạt động tự nhiên của thể xác họ, và khi người nữ dựa vào “công cụ” mà họ cho là “giải phóng tuyệt vời” để họ được tự do như nam giới th́ không kịp nghĩ rằng khả năng truyền sinh mới là đặc tính “tuyệt vời” của họ! Bất hạnh thay, họ định nghĩa đặc tính qúy báu này như một sự thiệt tḥi cần phải cảnh giác, và chấn chỉnh! Kết quả là chính họ đă trở thành công cụ truy hoan của phái nam mà bọn này lại không cần phải nhận trách nhiệm!

 

Khi ban bố sứ điệp, Đức Phaolô VI đă nhắn nhủ như sau: “Chả cần có nhiều kinh nghiệm ai cũng có thể nhận thấy rằng bản tính yếu đuối của con người rất cần những động cơ thúc đẩy để giữ ǵn nếp sống đạo đức - đặc biệt là giới trẻ thường là đối tượng của cám dỗ, khiến họ dễ phá bỏ nếp sống này. Một hậu quả khác khiến ta phải cảnh giác là khi phái nam đă quen với những phương pháp ngừa thai, họ sẽ không c̣n kính trọng phái nữ nữa ... họ sẽ biến người nữ thành công cụ thỏa măn ham muốn của họ và không coi người nữ như một phối ngẫu cần được săn sóc và qúi trọng. ... Và khi nhà cầm quyền áp dụng biện pháp này cho mục đích riêng của nước họ nếu cần... th́ ai sẽ ngăn cản họ? Cho nên nếu một cá nhân trong gia đ́nh hay xă hội cảm thấy khó ḷng tuân giữ luật đạo đức và nếu họ quyết tâm tránh né bằng mọi giá, th́ họ sẽ ngả theo chính quyền để nhờ can thiệp vào một vấn đề hoàn toàn thuộc trách nhiệm cá nhân và riêng tư của đôi vợ chồng”. (Humanae Vitae, 17).

i

Ông Pia de Solenni, thành viên của viện Nghiên Cứu Gia đ́nh tại Washington D.C. và là thần học luân lư cắt nghĩa như sau: Lư do tồn tại của hôn nhân là bảo vệ gia đ́nh và con cái. Nay nếu tách khía cạnh con cái ra khỏi sắc tính th́ hôn nhân và những cơ cấu của nó không c̣n được coi trọng nữa. Thiên hạ sẽ có đủ mọi loại kết hợp mà không cần bảo vệ hôn nhân v́ nó đă mất hết ư nghĩa xă hội nó từng có xưa nay.  Khi tách truyền sinh ra khỏi sắc tính th́ chúng ta không c̣n sắc tính trọn vẹn nữa. Thể xác nay được quan niệm gần như dưới khía cạnh cơ khí: sắc tính trong hôn nhân không quan trọng đối với thân thể nữa. Sắc tính do ư muốn của con người. Giới tính[9] và sắc tính[10] nay tương đương với đam mê nhục dục[11] chứ không c̣n là thành phần thẩm thấu của con người, không có vấn đề phẩm giá con người, và không cần biết con người được tạo dựng ra với mục đích ǵ!”

 

Măi dâm đă trở thành một kỹ nghệ toàn cầu, nạn buôn bán phụ nữ đă phổ biến đến nỗi giới truyền thông quốc tế vốn không phải là đồng minh của đạo đức hoặc luân lư cũng phải đánh chuông báo động. Những bài phóng sự về “ấu dâm” (trẻ em 5, 6 tuổi đă bước vào nghề điếm tại các nhà chứa Cambốt, những cô dâu VN trần truồng đem trưng bày và rao bán như một món hàng...) đă được báo chí đăng tải.

 

Văn hóa suy đồi, xă hội băng hoại, trẻ con thiếu giáo dục luân lư đạo đức, lạc lơng, đem súng ra bắn bâng quơ. Bọn thờ qủy đi bắt cóc trẻ nhỏ, hoặc vào nhà thờ “rước lễ” bằng tay rồi lén đem về tế lễ Satan... vậy mà thế gian vẫn “làm ngơ”! Cho nên 25 năm sau (1993) khi công bố Tông Thư Veritatis Splendor ĐTC Gioan Phaolô II đă nhấn mạnh rằng chúng ta đang sống trong một thời đại đạo đức hỗn loạn. Giáo lư truyển thống về luật tự nhiên và tánh hoàn vũ và xác thực trường cửu của những giới răn này đă bị gạt bỏ... ngay cả Huấn Quyền Giáo Hội –magisterium- cũng được coi như chỉ có thể can thiệp vào các vấn đề luân lư để “khuyến dụ lương tâm” và “đề nghị giá trị” thôi, c̣n mỗi cá nhân sẽ dựa vào đó để tự ḿnh quyết định chọn lựa theo ư riêng...

 

“Đặc biệt chúng ta cũng nên lưu ư rằng ngay cả trong các Chủng Viện và trong các Khoa Thần Học cũng thiếu hài ḥa giữa một vài lập trường thần học và sự đáp ứng của Giáo Hội về những vấn đề vô cùng quan trọng liên hệ tới ... đời sống đức tin của giáo hữu cũng như đối với chính đời sống của xă hội nữa. Câu hỏi đặt ra là: Những giới răn của Chúa được ghi vào ḷng người và là thành phần của Giao Ước thật sự có khả năng soi chiếu cho những quyết định hàng ngày của cá nhân và của toàn thể xă hội không? Có thể nào vâng lời Chúa, nghĩa là mến Chúa yêu người, mà không cần tôn trọng những giới răn này trong mọi trường hợp không? Người ta c̣n tự hỏi rằng có một sự ràng buộc nội tại vĩnh viễn nào giữa đức tin và đạo đức không, hay là tính thống nhất nội bộ và tư cách thành viên của tín hữu chỉ cần giải quyết trên nền tảng đức tin thôi, c̣n trong lănh vực đạo đức th́ có thể châm chước để cá nhân có thể chủ quan tự xét theo lương tâm họ, căn cứ vào bối cảnh khác biệt về xă hội và văn hóa nơi họ sinh sống.”

 

Con người nay đă tạo cho ḿnh một tâm lư phản động chống lại Thiên Chúa chưa từng thấy nên họ tin rằng tự do mà họ có là do thủ đắc được nhờ sự “tiến hóa đăi lọc sinh tồn” của vật chất tự nhiên chứ không phải là tặng sủng Thiên Chúa ban không cho họ khi tạo dựng họ theo h́nh ảnh Ngài, nên họ có quyền theo ư riêng ḿnh chứ không cần tuân thủ một luật tắc đạo đức nào cả! Quyền hưởng thụ tối đa là của tôi, tốt hay xấu là do tôi quyết định v́ tôi là chủ vận mạng tôi!

 

Người Công giáo không nên chạy theo cái gọi là mainstream – tâm lư đại chúng dễ dăi này - v́ nó đă sản sinh ra văn hóa sự chết “... Cửa rộng và đường thênh thang th́ đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó”. C̣n cửa hẹp và đường chật th́ đưa đến sự sống, nhưng ít người t́m được lối ấy. (Mt 7: 13-14)

 

Trong tài liệu Văn Hóa Sự Chết, Sự Phản Loạn của Loài Người Chống Lại Kế Hoạch Sự Sống của Thiên Chúa, có những con số thống kê sau đây: sinh xuất trong 61 quốc gia tính đến cuối thế kỷ 20 không đủ để thay thế số dân tử vong. Tỉ lệ thay thế dân số là 2.1 trẻ cho mỗi phụ nữ: 2 trẻ để thế chỗ cha mẹ chúng, và 0.1 trẻ để thay thế số trẻ sơ sinh bị chết và những phụ nữ không sanh đẻ. Với tỉ lệ 2.1 sanh xuất cho một phụ nữ dân số sẽ không tăng mà chỉ ở nguyên t́nh trạng cũ. Sinh xuất trong một số các “nước Công Giáo” rất đáng lo ngại. Italy chỉ có 1.2, Spain 1.15, Portugal 1.37, Ireland 1.9. Trung b́nh tại hầu hết các nước Âu châu là 1.4. Hoa kỳ là 1.99. Chính phủ Hoa kỳ tính rằng nếu cứ hạn chế sinh sản theo đà này th́ đến năm 2030 sẽ chỉ c̣n 2 người làm việc và 1 người nhận phúc lợi an sinh xă hội. Kinh tế lúc đó sẽ không kham nổi t́nh trạng này. Tử xuất tại Italy cao hơn sinh xuất. Nga mất 500,000 người mỗi năm. Đến cuối thế kỷ 21, dân số Âu châu sẽ teo xuống c̣n một phần nhỏ mức hiện nay. Nhật bổn không có di dân và đến năm 2050 sẽ mất 25% dân số. Không những chúng ta không tuân lệnh truyền sinh của Chúa, mà c̣n không "sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất” (STK 1: 28). Úc châu lớn gần bằng Hoa kỳ mà chỉ có 19 – 20 triệu người so với gần 300 triệu của Mỹ. Các nước Nam Mỹ thưa dân đến nỗi điện thoại chỉ có tại các đô thị lớn. Người ta đă dùng nạn nhân măn và thiếu chỗ ở trên trái đất để hù dọa chúng ta và cổ vơ hạn chế sinh sản, nhưng tiến sĩ Brian Murphy khẳng định rằng nếu dồn hết dân số thế giới (khoảng 6 tỷ người) vào Tiểu bang Texas th́ mỗi người có 1,000 bộ vuông để sinh sống (1,000 bộ vuông - square feet - tương đương với hơn 100 mét vuông), hẹp hơn San Francisco chút ít nhưng rộng hơn New York.[12]

 

“Văn hóa sự chết pha trộn với văn hóa sự sống” là một yếu tố bí hiểm, là tảng đá gây vấp ngă khiến nhiều người cho rằng khó ḷng bênh vực đạo đức Kitô bởi v́ đó là một thứ “văn hóa ngược chiều và lỗi thời” so với dư luận đại chúng mainstream và những tiến bộ vượt bậc của “khoa học” trên mọi lănh vực! (xem Mt. 13: 24-30, dụ ngôn lúa tốt và cỏ lùng)

 

Tất nhiên ai cũng công nhận rằng y học, và kỹ thuật trong những thập kỷ qua đă có những phát minh tân kỳ về pḥng bệnh và chữa bệnh để bảo tồn sự sống. Tuy vậy, khoa học cũng đă đem đến những vấn đề gai góc như ngừa thai, phá thai, truyền sinh nhân tạo, “hôn nhân” đồng tính, trợ tử - giúp chết êm ái[13], chửa thuê đẻ mướn[14], an toàn sắc dục!... Ṛ ràng đây là những tội ác, nhưng đă được các giới y khoa, chánh trị và giáo dục gói trong những mỹ từ hấp dẫn như những viên thuốc độc bọc đường để cổ vơ và truyền bá rộng răi trong trường học. Nhiều Kitô hữu không c̣n biết xử trí ra sao trước những vấn đề này. Họ c̣n hoang mang hơn khi nhận được những lời khuyên trái ngược của các vị thần học, và ngay cả các vị chủ chăn. Nhiều người quên rằng Huấn Quyền của Giáo Hội (Magisterium) đă công khai giảng dạy vấn đề này từ lâu.

 

V́ chúng ta quan tâm chính yếu đến SỐNG ĐẠO và các vấn đề sự sống, nên có lẽ cũng nên xét sơ qua về nền tảng của luận chứng đạo đức.

 

Luật tắc đạo đức từ đâu mà có? Sách Sáng Thế 1: 26-27 viết: con người được tạo dựng theo h́nh ảnh của Chúa. Khác với muôn ngàn sinh vật khác, chúng ta có lư trí và ư chí. Chúng ta có khả năng hiểu biết và yêu mến. V́ Thiên Chúa tạo dựng ta theo h́nh ảnh Ngài nên ta có tự do làm điều tốt hay điều xấu. Nhờ lư trí, chúng ta có thể phân biệt được đâu là tốt, đâu là xấu. Khả năng xét đoán này của lư trí gọi là lương tâm hay lương tri. Nhờ ư chí ta có thể chọn cái tốt hoặc chọn cái xấu. Đây là một tặng phẩm qúi báu, nhưng nó cũng đ̣i hỏi trách nhiệm. Ta phải dùng tự do để sống theo h́nh ảnh Chúa, nghĩa là chọn cái tốt và bỏ cái xấu. Như vậy sẽ được thưởng sự sống đời đời (Rm 2: 5-10) Làm sao ta biết được cái ǵ là tốt cái ǵ là xấu? Luật hằng hữu của Chúa, thiết kế nơi linh hồn ta có thể giúp ta biết cách sống theo bản tính của Thiên Chúa là Sự Thật, là Công Lư, là T́nh Yêu. Những yêu cầu của luật tắc đạo đức này từ đâu mà có? Từ 10 điều răn mà Chúa Giêsu đă tóm gọn như sau: Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết ḷng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. C̣n điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính ḿnh. Tất cả Luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy." (Mt 22: 37-40)

 

Chúng ta có thể dùng lư luận để phân biệt tốt xấu, nhưng v́ tội nguyên tổ nên lư luận của chúng ta bị thương tổn, do đó chỉ dùng lư luận loài người thôi th́ có thể sai lầm. Nhờ có 10 điều răn và sự hướng dẩn của Giáo Hội do Chúa Giêsu thiết lập nên Giáo Hội là Thày dạy đáng tin cậy về các vấn đề sự sống, do đó sự biện giải của Giáo Hội về luật đạo đức tự nhiên và mặc khải công khai là phán quyết tối hậu và không thể sai lầm.

 

Tuy nhiên, luận chứng đạo đức xét đầy đủ dưới mọi khía cạnh không thể tóm gọn trong vài trang giấy. Huấn Quyền Giáo Hội là kim chỉ nam cho nếp sống và các nguyên tắc hành đạo của tín hữu nên chúng ta cần – và phải - tham khảo các tài liệu của Hội Thánh. Có lẽ hai tài liệu quan trọng bậc nhất ngày nay khả dĩ giúp ta t́m ra lối đi đúng hướng trong hỏa mù Satan hiện nay là Humanae VitaeVeritatis Spendor [15] (về Sự Sống con người và ánh sáng huy hoàng của sự thật). Ngoài ra, chúng ta nên tham  khảo Phần Thứ Ba trong Sách Giáo Lư của Giáo Hội Công Giáo nhan đề là Sự Sống Trong Chúa Kitô từ số 1691 đến 2557 đề cập đến tất cả mọi vấn đề liên quan đến sự sống. Sống đạo là lư tưởng tối cao của người tín hữu. Thiên Chúa là mục đích tối thượng của mọi người. Phủ nhận Thiên Chúa, không có nghĩa là không có Thiên Chúa. Phủ nhận Chúa Giêsu sống lại không có nghĩa là Chúa Giêsu không sống lại. “Nếu muốn tuyên xưng ḿnh là Kitô hữu ngày nay đ̣i hỏi chúng ta phải thật can đảm. (Thế gian) vui mừng đón nhận các loại Kitô giáo xu thời, khen họ là tốt đời đẹp đạo ... (rồi) gán cho ... tín hữu không xu thời là thứ bảo căn quá khích. Mối nguy độc tài tư tưởng càng ngày càng tăng, và ai không theo nó th́ bị gạt sang bên lề, khiến nhiều người tốt không dám xuất hiện trong hàng ngũ ... không xu thời!”[16]

 

Tại Mỹ, có một người nào đó đă đưa lên mạng bài ngụ ngôn sau đây: người viết xin cống hiến cùng bạn đọc. Ngày Chủ nhật trong một nhà thờ nọ, Cha Sở với thày Phó tế chuẩn bị dâng thánh lễ.  Ca đoàn bắt đầu cất tiếng hát bài ca nhập lễ, cộng đoàn đông đảo ngồi đầy hết các giăy ghế trong thánh đường, th́ bỗng từ ngoài cửa có tiếng nói lớn xôn xao; hai người lực lưỡng tay cầm vũ khí, bịt mặt hùng hổ bước lên trước bàn thờ rồi quay mặt xuống cộng đoàn dơng dạc tuyên bố: người nào sẵn sàng chịu chết cho Thiên Chúa th́ ở lại, bằng không th́… Họ bỏ lửng câu nói. … Thày Phó tế bỏ đi trước, tiếp theo sau đó toàn thể ca đoàn… Thanh niên thiếu nữ cũng bỏ đi gần hết Sau cùng c̣n lại một phần tư tín hữu, gồm các lăo ông lăo bà, vài chục em thanh niên thiếu nữ, và một lũ trẻ con. Bầu không khí ngột ngạt tưởng chừng như một cây kim rơi xuống đất cũng nghe thấy. Bỗng hai người kia gỡ khăn bịt mặt ra và nói: “Kính mời Cha bắt đầu cử hành thánh lễ!!!   

Cha James Farfaglia, giáo xứ St. Helena of the True Cross Parish Corpus Christi, Texas nhân kỷ niệm Chúa Hiển Linh ngày 6 tháng 8 - 2006) khi suy gẫm về Sứ điệp Humanae Vitae của Đức TC Phaolô VI đă khuyên cộng đoàn của ngài hăy gạt bỏ ích kỷ ra khỏi đời ta nếu muốn được biến đổi thành Kitô hữu đích thực, v́ mục đích của đời sống Kitô là biến đổi trong Chúa Kitô để có thể trở nên ngày càng giống Chúa Kitô phục sinh!

 

Một vài đề nghị thực tế của ngài nhằm giúp ta gỡ bỏ tánh ích kỷ là: lập danh sách các việc làm mà chắc chắn sẽ thay đổi được cuộc đời ta nếu nghiêm chỉnh áp dụng. Trước hết cố gắng giữ thái độ vui tươi tâm hồn thường xuyên: tự chế để gạt bỏ tánh khó chịu đối với bất cứ ai. Đoán trước xem người khác cần ǵ tỉ như tại bàn ăn chẳng hạn, hoặc dọn bàn sau bữa ăn, hoặc giúp rửa chén bát... Chú ư nghe người khác nói, đừng lúc nào cũng chỉ nói về ḿnh. Tập thói quen chào hỏi người khác kể cả người xa lạ... T́nh nguyện giúp việc cho giáo xứ hoặc cho các cơ quan từ thiện...  Một cách khác nữa giúp ta gỡ bỏ tánh ích kỷ là sử dụng tiền bạc rộng răi tỉ như đóng góp 10% thu nhập của ḿnh cho giáo hội. Làm sao có thể mong Chúa quảng đại với ta nếu ta không quảng đại với Ngài? Sau hết, đối với các cặp hôn nhân có khả năng sanh con, hăy quảng đại đón mừng sự sống. Ngừa thai là một hành vi ích kỷ, nó sẽ tạo ra một tâm trạng cực kỳ ích kỷ đáng sợ!

 

Sống đạo mà không hành đạo th́ cũng như không. Chiến đầu mà không có lâp trường cũng như đi tự sát một cách anh dũng! Ngày phán xét Chúa sẽ không hỏi về tài sản, tŕnh độ giáo dục, nghề nghiệp của ta mà chính tai ta sẽ nghe “xưa Ta đói, các ngươi đă cho ăn; Ta khát, các ngươi đă cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đă tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đă cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đă thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han... (v́) mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đă làm cho chính Ta vậy” (Mt 25: 35-36, 40) Đây là luật yêu thương tối hảo. Phá thai, ngừa thai, chửa thuê đẻ mướn, hôn nhân đồng tính, tất cả lối sống hỗn loạn ngày nay đều trái với luật yêu thương.

 

Sách Lương Thực Hàng Ngày[17] chương nói về sự Si Mê Đời Này Quá Đáng viết như sau: Cách tốt nhất để ư thức được giá trị phù vân của những ham muốn thế gian là nh́n vào quá khứ. Những thú vui năm ngoái nay c̣n đâu? Vinh dự mà tôi đă cố sức đạt được cách đây 5 năm nay đâu mất rồi? Những khoái lạc đă tận hưởng mùa hè vừa qua c̣n lại cái ǵ? Mọi sự đều đă hết rồi. Tôi có muốn tiếp tục sống thứ hạnh phúc ấy hay tôi muốn một loại hạnh phúc toàn hảo, bền vững, bất tận hơn? Chỉ có kẻ điên khùng mới do dự trước câu hỏi này!

 

Con đường thanh tẩy giúp ta hoán cải là hăy suy gẫm về bốn điều cuối cùng sau đây mà không ai thoát khỏi. (1) Một là sự chết. Ai cũng công nhận điều này, kể cả người vô thần. Tuy nhiên, chết không phải là biến cố cuối cùng của cuộc đời chúng ta đâu. (2) Hai là phán xét. Ngay sau khi chết, chúng ta sẽ ra trước ṭa Thiên Chúa để bị xét xử. Sự phán xét riêng này sẽ được lập lại trong ngày Phán Xét Chung, khi đó tất cả mọi người sẽ biết ḿnh là ai. Kết quả của cuộc phán xét này sẽ tùy thuộc vào cách chúng ta sống cuộc đời trần thế ngày nay như thế nào. (3) Ba là Thiên Đàng. Nếu chúng ta thành tâm sống các giới răn Chúa th́ sẽ được sống hạnh phúc đời đời trên Thiên Đàng. Nhưng nếu chúng ta coi thường các giáo huấn yêu thương của Chúa mà từ chối không sử dụng trợ giúp quảng đại mà Chúa ban không cho chúng ta, th́ chúng ta sẽ bị kết án (4) hỏa ngục. Đó là điều thứ bốn. Sự chết, phán xét, Thiên Đàng, hay hỏa ngục là 4 điều cuối cùng chúng ta đang tiến tới từng giây từng phút, dù tin hay không tin. Nếu lương tâm chúng ta trong sáng th́ không phải sợ hăi. Nếu chúng ta kính mến Chúa trong cuộc sống hàng ngày, nghĩa là thành khẩn cố gắng t́m hiểu và tuân theo thánh ư Chúa th́ không có lư do ǵ phải sợ hăi. Ḷng quảng đại của Chúa kư thác trong kho báu nhiệm tích. Nếu lỡ ra mà phạm tội làm mất ḷng Chúa th́ có nhiệm tích giải tội, giúp ta sám hối, ăn năn. Chúa sẽ tha thứ cho ta tất cả mọi tội phạm, nếu chúng ta thành khẩn. Càng sử dụng các nhiệm tích càng làm cho chúng ta được gần Chúa hơn. Những kẻ “cấp tiến” không tin và thích bôi bác sẽ chế nhạo tín hữu là “bày đặt” xưng tội để dễ bề phạm tội nữa! Không có lối lư luận nào ấu trĩ và phi lư hơn. Nói vậy th́ cũng như nói người mắc bệnh liệt kháng (aids – sida) hết sức chạy chữa cho hết bệnh rối lại tiếp tục sống như cũ để “được” mắc bệnh liệt kháng lấn nữa!

 

Khi suy gẫm những điều này chúng ta hăy cố gắng hội nhập vào tâm trạng vĩnh cửu. Chúng ta phải hết sức bảo đảm cho ḿnh, trong phạm vi có thể được, một thắng lợi vô tận và một hạnh phúc trên Thiên Đàng không ǵ làm hoen ố được.

 

Louis Lê Xuân Mai


 

[1] Tin Mừng Hy Vọng

[2] We are facing an enormous and dramatic clash between the culture of death and the culture of life. We find ourselves in the midst of the conflict. We are all involved and we all share in it, with the inescapable responsibility of choosing to be unconditionally pro-life. (Pope John Paul II, The Gospel of Hope).

[3] Thần Prometheus ăn cắp lửa từ trời xuống giúp con người. Thần Zeus là chủ các thần bèn tạo ra nàng Pandora xinh đẹp và cho xuống thế gian để phá chương tŕnh này. Pandora t́m thấy một cái hũ - (thường gọi là Hộp Pandora – Pandora box) và ṭ ṃ mở ra coi th́ bao nhiêu sự dữ bay ra khắp nơi tạo khốn quẫn cho con người mà không có cách nào nhốt chúng trở vào hũ lại. Khi Pandora đậy nắp lại th́ chỉ c̣n Hy Vọng chưa bay ra khỏi hũ mà thôi. (Thần thoại Hy Lạp)

[4] Nhiều người cho rằng chiến tranh dưới triều đại Đức Piô XI là không đúng v́ thế chiến II xảy ra tù 1939 đến 1945, dưới thời Đức Piô XII. Nhưng Chị Lucia xác nhận chiến tranh xảy ra với việc Đức chiếm đóng Austria năm 1938 dưới thời Đức Piô XI. Dấu hiệu báo trước chiến tranh là “Con (Lucia) sẽ thấy một ánh sáng lạ. Đó là dấu hiệu cho con biết chiến tranh sắp xảy ra.” Ánh sáng “lạ” này xảy ra đêm 25 rạng 26 tháng 1, 1938 đă được một khoa học gia nguyên tử năng xác nhận. (Tài liệu HER OWN WORDS to the Nuclear Age, của John M. Haffert, 1993.)

[5] SOLT = Society of Our Lady of the Most Holy Trinity

[6] Hate crime

[7] It is no real surprise, then, that there are efforts to create a vision of Europe which ignore its religious heritage, and in particular, its profound Christian soul, asserting the rights of the peoples who make up Europe without grafting those rights on to the trunk which is enlivened by the sap of Christianity. (Loss of memery, JP II)

[8] Tôi có bà chị họ hiện sống ở Pháp kể lại câu chuyện sau đây. Một người Pháp quen thấy bà săn sóc cho người chồng tật nguyền hỏi bà là đă ở với ông này được bao lâu rồi. Bà đáp: 60 năm! Người kia sửng sốt hỏi: chỉ có một ông này thôi ư? Chị tôi đáp: Chớ sao?! Bà kia trợn mắt không thể hiểu nổi hiện tượng “quái đản này”. (!!!)

[9] Sex

[10] Sexuality

[11] Lust

[12] The entire population of the world can fit into the State of Texas, with 1000 square feet per person, which is a slightly higher density than San Francisco but a slightly lower density than the Bronx in New York City.<O:P> </O:P></SPAN>Humanity's Rebellion Against God's Plan For Life, tiến sĩ Brian Murphy.

[13] Euthanasia

[14] Surrogate motherhood

[15] Có thể tham khảo đa số các tài liệu quan trọng của Giáo Hội trong Internet ở địa chỉ www.ewrn.com hay www.vatican.va .

[16] Đức Thánh Cha Bênêđíctô 16, Muối Cho Đời, trang 158-159 (Phong trào giáo dân hải ngoại, 2006)

[17] My Daily Bread, Chapter 12, Extreme Love of This Life